Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng SĐTD để giúp học sinh Lớp 6 hệ thống hóa một số kiến thức cơ bản về từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm theo chương trình tiếng Anh thí điểm

Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng SĐTD để giúp học sinh Lớp 6 hệ thống hóa một số kiến thức cơ bản về từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm theo chương trình tiếng Anh thí điểm

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

2.1. Tổng quan vấn đề:

Thực hiện theo Đề án Ngoại Ngữ Quốc Gia từ năm học 2013-2014

của Bộ GDĐT, chương trình Tiếng Anh thí điểm lớp 6 đã được triển khai

dạy thí điểm ở một số trường THCS trên địa bàn TP Tam Kỳ bắt đầu từ năm

học 2014-2015. Việc áp dụng dạy thí điểm Tiếng Anh 6 THCS với tâm điểm

là đáp ứng yêu cầu xây dựng, định hướng học tập cũng như góp phần vào

mục tiêu “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” cho học sinh (HS) trong hoàn cảnh

mới của xã hội Việt Nam hiện đại. Thêm vào đó, trọng tâm của việc đổi mới

chương trình và sách giáo khoa cũng không gì khác là tập trung vào đổi mới

phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa trên các hoạt động tích cực,

chủ động, sáng tạo của HS dưới sự tổ chức và hướng dẫn thực hiện thích

hợp của giáo viên (GV), nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, góp phần

hình thành nên nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo

niềm vui thích trong học tập và thực hành cho HS.

pdf 24 trang Người đăng phuongnguyen22 Ngày đăng 04/03/2022 Lượt xem 43Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng SĐTD để giúp học sinh Lớp 6 hệ thống hóa một số kiến thức cơ bản về từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm theo chương trình tiếng Anh thí điểm", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ỉ đem lại 
 4 
những kết quả hạn chế. Với yêu cầu mới của phương pháp dạy và học hiện 
nay và sự cần thiết để giải quyết những lí lẽ trên không gì hiệu quả hơn là 
nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng SÐTD. 
Theo Tony Buzan là người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra SĐTD dựa 
theo đặc điểm và nguyên lý hoạt động của não bộ, là hình thức ghi chép 
nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay 
một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, 
đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ 
đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ 
thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, 
hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người 
có thể thể hiện nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập 
SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi HS. 
4. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 
Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá HS cũng là một hình thức của 
đổi mới phương pháp dạy học, và thông qua đó GV phải có phương pháp 
dạy sao cho phù hợp. Việc đổi mới phương pháp dạy cùng với sự hỗ trợ của 
các phương tiện kỹ thuật đã và đang phần nào đạt được những yêu cầu đặt 
ra. Đặc biệt là phương pháp tổ chức hoạt động nhóm của HS dưới sự hướng 
dẫn của GV. Do một tiết học trên lớp chỉ có 45 phút không đủ thời gian cho 
các hoạt động, trong khi đó chương trình SGK thí điểm hiện nay có dung 
lượng ngữ liệu nhiều cần có sự lĩnh hội kiến thức một cách logic để vận 
dụng trong thực tiễn của việc học tập hiện nay. Đặc biệt là phần từ vựng quá 
nhiều, ngữ pháp, ngữ âm quá khó so với trình độ HS khối lớp 6. Do vậy 
trong quá trình dạy GV gặp không ít những khó khăn như: 
- HS tập trung vào việc ghi chép mà hạn chế việc tham gia thảo luận 
mhóm hoặc tham gia thảo luận mà không ghi chép đầy đủ bài học. 
- Mặt khác, hạn chế của HS là chưa biết cách học, cách ghi kiến thức 
vào não bộ mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, học một cách máy móc, thuộc 
nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm trong bài học, trong tài liệu tham 
khảo hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với 
nhau.  
Qua tập huấn, học hỏi, nghiên cứu và qua thực tế đã sử dụng, tôi nhận 
thấy SÐTD một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất 
kì điều kiện cơ sở vật chất nào của trường THCS hiện nay. Có thể thiết kế 
SÐTD trên giấy, bìa, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, 
tẩy, hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm SÐTD. Với trường có điều 
kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm 
Mindmap cho GV, HS sử dụng, nhưng tiện dụng nhất vẫn là vẽ trên giấy, 
bìa, bảng phụ. 
 Việc vận dụng SÐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy 
mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách 
hệ thống, khoa học. Sử dụng SÐTD kết hợp với các phương pháp dạy học 
 5 
tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, có tính khả thi cao góp 
phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với học sinh các lớp bắt đầu học chương 
trình TA TĐ. 
Nếu so sánh với phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú trọng đọc 
- chép thì dạy học bằng SÐTD là một phương pháp mới. Theo Tiến sĩ Trần 
Ðình Châu, Vụ trưởng, Giám đốc Dự án phát triển giáo dục THCS 2, một số 
kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái 
mà chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ ra. Vì vậy, việc sử dụng SÐTD giúp học 
sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não; giúp 
cho mỗi người phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải có bố 
cục hợp lý, mầu sắc đẹp, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một 
cách khoa học, lô-gích, dễ hiểu. Sử dụng SÐTD góp phần đổi mới phương 
pháp dạy học, nhất là vận dụng vào dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống 
hóa kiến thức phù hợp với từng đối tượng khác nhau. 
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 
 5.1. Thực trạng của vấn đề: 
 1. Thuận lợi: 
- Đây là phương pháp học tập mới, thoải mái, thú vị và sáng tạo. 
- Đây là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên được sự ủng hộ từ 
các cấp trong ngành giáo dục, phụ huynh, học sinh, 
- Chương trình TA lớp 6 TĐ có nhiều nội dung phù hợp với phương 
pháp giảng dạy dùng SĐTD để phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức 
cho học sinh lĩnh hội kiến thức. 
- Về cơ sở vật chất của trường học hiện nay đã có nhiều đổi mới tạo 
điều kiện cho hoạt động dạy và học: Phòng CNTT, đèn chiếu, bảng phụ, 
- Giáo viên được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về 
sử dụng SĐTD trong giảng dạy. 
- CNTT hiện nay tạo điều kiện cho mọi người có điều kiện tiếp cận 
nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau. 
- Phương pháp sử dụng SĐTD trong việc dạy các kiểu bài phù hợp với 
tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, khắc phục được sự nhàm chán của phương 
pháp dạy học truyền thống. Vì vậy gây hứng thú cho người học, kích thích 
học sinh tư duy tích cực. 
2. Khó khăn: 
- Phương pháp giảng dạy này tuy đã triển khai hơn ba năm học rồi, 
nhưng nó vẫn còn mới nên GV và HS không khỏi lúng túng trong một số kĩ 
năng như sử dụng lúc nào, sử dụng như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, 
ý tưởng ra sao,  
- Nội dung môn TA THCS, đặc biệt là môn TA lớp 6 TĐ có dung 
lượng nhiều, khó,  nên GV khó dạy, HS khó học. 
- Đòi hỏi GV cần phải có những kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm. 
 6 
- Cơ sở vật chất ở trường học tuy có đổi mới, nhưng chưa thực sự đáp 
ứng và chưa phù hợp: Số lượng HS, không gian lớp học, trang thiết bị - đồ 
dung dạy học, thời lượng tiết học,  
- Năng lực HS không đồng đều nên đôi khi việc vẽ SĐTD trong học 
tập là sự máy móc không hiệu quả. 
- Môi trường học tiếng ở địa phương hiện nay chưa đáp ứng được 
trong việc thực hành giao tiếp. Phần lớn gia đình HS chưa có sự đầu tư đúng 
cách, chưa dành sự quan tâm đúng mức, còn xem thường và cũng do nhu 
cầu lợi ích chưa thiết thực trong thời điểm HS đang học. 
 5.2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: 
Là GV đang trực tiếp giảng dạy bộ môn TA trên lớp trước tiên cần 
phải nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chương 
trình SGK, chuẩn kiến thức kĩ năng, phương pháp giảng dạy, việc sử dụng 
các phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học phải phù hợp, thích 
ứng với từng hoạt động giúp HS tích cực trong tìm tòi, tiếp thu lĩnh hội kiến 
thức. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, phải nhấn mạnh rằng SĐTD là 
một công cụ phối hợp với các phương pháp khác đã thực hiện thêm phần 
hiệu quả, mặc dù đây không phải là một giải pháp có thể thay thế tất cả các 
phương pháp khác. Vì vậy trong quá trình dạy học bộ môn TA ở các lớp 7, 
8, 9 nói chung và đặc biệt môn TA 6 TĐ từ đầu năm học 2014-2015 nói 
riêng, tôi đã đưa ra và áp dụng nhiều giải pháp có hiệu quả nhưng trọng tâm 
là sử dụng SĐTD. Với kinh nghiệm dưới đây, để thực hiện cho các mục tiêu 
của từng phần có sự phối kết hợp của nhiều phương pháp trên cở sở đặc 
trưng của từng loại bài và đưa ra những lí luận, giải pháp, cách làm cùng 
thực hiện theo tôi cho là có hiệu quả và tạo ra được thích thú cho cả thầy lẫn 
trò. 
1. Phương pháp xây dựng sơ đồ tư duy. 
 a/ Bảy bước để tạo nên một SĐTD: 
Bước 1. Bắt đầu từ trung tâm và triển khai ra các nhánh (Có thể sử 
dụng từ chính hoặc hình ảnh cần thiết). 
Bước 2. Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng 
kích thích não như hình ảnh. 
Bước 3. Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối 
các nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh 
cấp hai, 
Bước 4. Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường 
nối 
Bước 5.Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu 
sắc,) 
Bước 6. Nên dùng các đường kẻ cong thay cho các đường thẳng vì 
các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn 
rất nhiều các đường thẳng buồn tẻ. 
 7 
Bước 7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm. 
 b/ Cách ghi chép trên SĐTD: 
- Nghĩ trước khi viết. 
- Viết ngắn gọn. 
- Viết có tổ chức. 
- Viết theo ý của mình. 
 c/ Điều cần tránh khi ghi chép trên SĐTD: 
- Viết câu dài dòng. 
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết. 
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép. 
 d/ Qui trình học cách thiết kế SĐTD: 
Bước 1: Cho học sinh đọc hiểu nội dung cần thiết kế trên SĐTD. 
Bước 2: Học cách thiết kế SĐTD bằng cách cho học sinh hoàn thiện 
các SĐTD do GV vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung 
Bước 3: Thực hành vẽ SĐTD trên giấy, bìa, bảng. 
 2. Các hoạt động dạy học trên lớp với SĐTD: 
Từ việc học sinh nắm vững được phương cách xây dựng SĐTD và 
quy trình tổ chức xây dựng SĐTD trong dạy học. Đồng thời qua kết quả 
nghiên cứu thực nghiệm và lý luận của nhiều nhà hoạt động trong ngành 
giáo dục. Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với SĐTD như 
sau: 
- Hoạt động 1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của 
GV. 
- Hoạt động 2: HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, 
thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập. 
- Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD 
về kiến thức của bài học đó. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS 
hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học. 
- Hoạt động 4: củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn 
bị sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS 
lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó. 
 Ví dụ: Unit 1: MY NEW SCHOOL. Ở phần PROJECT cho HS nói 
về ngôi trường mơ ước DREAM SCHOOL. 
Yêu cầu của phần này là cho HS tự do luyện nói về ngôi trường mơ 
ước của các em một cách thoải thích theo trí tưởng tượng của mình. 
Hoạt động 1: Do thời gian trên lớp không có nhiều nên bước đầu tôi 
mời một HS tương đối giỏi ở lớp đứng tại chỗ trình bày ngắn gọn ý tưởng 
của mình, sau đó tôi phác họa lại ý tưởng của em này bằng một SĐTD đơn 
giản lên bảng: 
 8 
Mục đích của việc làm này là để tất cả các HS khác của lớp bắt chước 
làm theo ở lớp hoặc ở nhà. Tôi cũng nhấn mạnh với các em rằng trong quá 
trình dạy học tôi sẽ cố gắng hết sức để tạo điều kiện cho các em luyện nói, 
và muốn làm quen với việc luyện nói được dễ dàng chỉ có cách tốt nhất là 
nhìn vào SĐTD để nói. Tôi cũng yêu cầu mỗi nhóm về nhà vẽ 1 SĐTD để 
ghi ra những mơ ước về ngôi trường mơ ước của mình. 
Hoạt động 2: Như đã hứa ở trên, mỗi tiết dạy tôi dành từ 5 – 10 phút 
đầu giờ (Điểm KT miệng tôi ghi cho HS bất cứ hoạt động nào trong quá 
trình học ở lớp hoặc việc dặn dò về nhà nếu các em thực hiện tốt, cho nên 
phần lớn thời gian đầu tiết học tôi dành cho việc luyện nói) tôi gọi 1 đại 
 9 
diện của một nhóm HS lên trước lớp, nhìn vào SĐTD của nhóm mình đã 
thiết lập để thuyết trình. Sau đó tôi nhận xét và có thể ghi điểm miệng cho 
cá nhân em HS này. 
Việc cô giáo phân công làm việc theo nhóm để có ý tưởng hay phong 
phú hơn, nhưng khi lên bảng thuyết trình cô giáo lại cho điểm cá nhân 
nhằm mục đích giúp các em có động lực và không đùn đẩy cho nhau khi 
được mời lên bảng. 
Hoạt động 3: Sau khi có được sự góp ý của cô giáo trên lớp để SĐ 
của các em được hoàn thiện hơn (hoặc thảo luận của nhóm nếu thời gian 
cho phép), tôi yêu cầu các em mỗi cá nhân về nhà tự vẽ lại 1 SĐTD riêng 
cho mình và cô sẽ gọi lên thuyết trình bất cứ lúc nào có thể. 
Hoạt động 4: Lần này các em khiến tôi rất vui vì mỗi em đều có 
trong tay 1 SĐTD của mình kể cả những em yếu kém và tất nhiên vẫn có 
nhiều SĐ chưa đạt yêu cầu nhưng như thế cũng đã tốt rồi. 
Để động viên và tạo sự hứng thú hơn cho những hoạt động tiếp theo, 
tôi gọi 1 HS tương đối yếu lên bảng và dìu em tập nói cho dù được vài câu 
đơn giản cũng tốt. Tôi nhận xét, cho điểm và tuyên dương em. 
Qua các hoạt động trên, tôi rất vui rằng bước đầu tôi đã thành công 
trong việc dẫn dắt các em sử dụng SĐTD để học TA. Tuy nhiên hiệu quả 
trong tương lai như thế nào phần lớn còn phụ thuộc vào sự luyện tập và nỗ 
lực của các em nữa. 
 10 
3. Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập từ vựng: 
Từ vựng là một trong những loại ngữ liệu rất cần thiết để xây dựng 
thành ý, thành câu, thành bài văn hoàn chỉnh và như tôi đã nói ở các phần 
trên, trong chương trình SGK môn TA 6 TĐ có rất nhiều từ vựng. Vậy làm 
sao để giúp HS lớp 6 tiếp thu và nhớ được khối lượng lớn từ vựng trong quá 
trình học mà không gây nhàm chán. 
Ví dụ 1: UNIT 2: MY HOME, ở phần CLOSER LOOK 1. 
Qua SĐTD này HS dễ dàng nhớ được các phòng trong một ngôi nhà 
và các thiết bị trong từng phòng. 
Ví dụ 2: UNIT 3: MY FRIENDS. Giúp HS học và nhớ tính từ chỉ 
tính cách (ADJECTIVES FOR PERSONALITY) để miêu tả người thân, 
bạn bè tôi hướng đẫn các em vẽ 2 SĐ sau để chỉ trạng thái vui và buồn, 
miêu tả trạng thái vui, tôi hướng dẫn HS vẽ mặt cười: 
 11 
Miêu tả trạng thái buồn, tôi hướng dẫn HS vẽ mặt buồn: 
Cứ như thế chúng ta chịu khó hướng dẫn và bày vẽ thường xuyên để 
HS có thói quen học và ôn tập từ vựng bằng SĐTD. Tôi hy vọng thói quen 
này sẽ giải đáp được điều phân vân trên. 
4. Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập ngữ pháp, ngữ âm: 
Khi HS đã có thói quen học và nhớ từ vựng được nhiều, thêm vào đó 
nếu các em nắm vững và vận dụng tốt các điểm ngữ pháp, thì việc học TA 
của các em sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn nhiều. Tôi tiến hành hướng dẫn HS 
lần lượt ôn tập bằng SĐTD như sau: 
Ví dụ: + Để chuẩn bị cho bài KT số 1, ngoài những kiến thức các em 
đã được luyện và ôn, tôi hướng đẫn các em vẽ 2 SĐTD: VERB + NOUN và 
TENSES (Simple present, present continuous) ở tiết ôn tập: 
 12 
+ Cũng như trên, bổ sung kiến thức chuẩn bị cho bài KT 1 tiết số 2, tôi 
hướng đẫn HS vẽ 2 SĐ: COMPARATIVE ADJECTIVES và 
SUPERLATIVE OF SHORT ADJECTIVES. 
 13 
+ Phát âm chuẩn cũng là một trong những tiêu chí để học tốt môn TA 
và giúp HS trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp, nên tôi hướng dẫn HS vẽ 
SĐ: PRONUNCIATION, tổng hợp các âm HS đã gặp trước khi các em thi 
HK. 
+ Để chuẩn bị cho bài KT số 3, tôi giúp HS vẽ sơ đồ TENSES (Simple 
present, present continuous, simple past, present perfect). Vì thời gian trên 
lớp không nhiều nên tôi hướng dẫn các em chuẩn bị sẵn một SĐTD về bốn 
thì trên ở nhà. Đến giờ ôn tập tôi cho các em hoạt động theo nhóm, các em 
khá / giỏi diễn giải cho các bạn trong nhóm hiểu. Sau đó tôi mời 1 HS giỏi 
nhất lớp lên bảng nhìn sơ đồ giải thích lại một lần nữa trước khi các em vận 
dụng vào bài tập trong SGK. 
 14 
 15 
+ Hai sơ đồ THREE Rs và CONDITIONAL SENTENCES (Type 1) 
được hướng dẫn vẽ để các em ôn tập chuẩn bị cho bài KT số 4: 
 16 
6. HIỆU QUẢ CỦA SKKN: 
- Sử dụng SĐTD trong việc đổi mới phương pháp dạy học đã dược 
tập huấn, triển khai từ năm học 2011-2012. Những năm học trước tôi đã 
thực hiện ở các khối 7, và 9. Đầu năm học 2014-2015 PGD TP Tam Kỳ 
triển khai dạy chương trình TA TĐ cho khối lớp 6 tôi được lãnh đạo trường 
phân công trực tiếp dạy 2 lớp 6/7 và 6/8. Do chương trình SGK TA 6 TĐ 
nhiều và khó, nên tôi đã thực sự bắt tay vào việc vận dụng SĐTD để giúp 
HS lớp 6 học TA có hiệu quả. 
- Từ khi vận dụng SĐTD vào dạy và học đã tạo sự tích cực cho học 
sinh; giáo viên và học sinh làm việc nhiều hơn nhưng thấy thoải mái và 
hứng thú hơn. Kinh nghiệm cho thấy, để đưa SÐTD ứng dụng vào quá trình 
dạy và học, HS có thể vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ, sử dụng bút chì mầu, 
phấn, tẩy,... hoặc cũng có thể thiết kế trên powerpoint hay các phần mềm 
bản đồ tư duy. Với các trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông 
tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm cho cán bộ, giáo viên, học sinh sử 
dụng. Tuy nhiên, việc dùng giấy, bút chì, bút mầu, tẩy,... để vẽ SÐTD có ưu 
điểm là giúp người lập SÐTD dễ dàng phát triển ý tưởng và bổ sung ý tưởng 
qua đó phát huy tối đa tính sáng tạo của mỗi người, phát triển năng khiếu hội 
họa, sở thích của mỗi người, được tự do chọn mầu sắc (xanh, đỏ, vàng, 
tím,...), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong...), tự sáng tác nên mỗi SÐTD thể 
hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng cá nhân và cũng do mỗi 
người tự làm nên càng yêu quý, trân trọng tác phẩm của mình. Với vật liệu 
dễ kiếm, rất kinh tế, cách làm đơn giản, SÐTD có thể vận dụng được với bất 
kỳ điều kiện nào của các nhà trường hoặc cá nhân HS hiện nay. 
Qua một thời gian áp dụng đề tài SKKN vào dạy môn TA 6 TĐ, cụ 
thể là từ bài KT 45 phút số 1 (HKI) và kiểm nghiệm tính ứng dụng của nó 
qua bài KT 45 phút số 3 (HKII), tôi có được kết quả như sau: 
Bài KT 45 phút số 1 (HKI) 
LỚP 
SỐ 
HS 
GIỎI KHÁ TB YẾU KÉM 
6/7 43 11(25.6%) 7(16.3%) 7(16.3%) 11(25.6%) 7(16.3%) 
6/8 44 16(36.4%) 6(13.6%) 8(18.2%) 11(25%) 3(6.8%) 
Bài KT 45 phút số 3 (HKII) 
LỚP 
SỐ 
HS 
GIỎI KHÁ TB YẾU KÉM 
6/7 43 16(37.3%) 10(23.3%) 8(18.6%) 6(14%) 3(7%) 
6/8 44 20(45.5%) 9(20.5%) 10(22.7%) 5(11.4%) 0(0%) 
 17 
So sánh, đối chiếu kết quả giữa 2 bài KT chỉ qua một thời gian ngắn, 
nhìn chung tôi thấy HS có sự tiến bộ rõ rệt, kết quả làm bài của các em có sự 
thay đổi tuy ít nhưng rất đáng mừng rằng kết đạt loại TB, K, G tăng lên, 
ngược lại số YẾU, KÉM giảm xuống. Đáng mừng hơn ở chỗ HS yếu, kém 
cũng đã biết học theo SĐTD từ đó các em vận vào bài làm. Đó chính là kết 
quả thiết thực nhất thể hiện sự thay đổi lối tư duy của các em. 
7. KẾT LUẬN: 
7.1. Ý nghĩa của việc sử dụng bản đồ tư duy trong học tập môn 
TA TĐ: 
- Sử dụng SĐTD giúp HS dễ dàng hệ thống hóa kiến thức của một bài, 
một cum bài hay toàn bộ chương trình học. 
- Khi vẽ SĐTD HS phải sử dụng cả bán cầu não trái và bán cầu não 
phải để suy nghĩ vì vậy các em sẽ phát huy được tối đa khả năng tư duy của 
bản thân và luôn hứng thú trong học tập. 
- Sử dụng SĐTD để tổng kết nội dung đã học, HS có thể vẽ thêm các 
nhánh mới (phát triển ý tưởng mới) theo cách hiểu của mình một cách chi 
tiết, đầy đủ. Như vậy, vẽ SĐTD để tổng kết bài học giúp các em bước đầu 
tập nghiên cứu khoa học. 
7.2. Những nhận định chung về đề tài, việc áp dụng và khả năng 
phát triển của đề tài. 
- SĐTD giúp GV và HS dễ dàng trình bày ý tưởng trước lớp và tiết 
kiệm được thời gian ghi chép, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, giúp 
HS nắm bắt được kiến thức qua một bản đồ thể hiện các liên kết chặt chẽ 
của tri thức. 
- Ở cùng một nội dung kiến thức khi vẽ SĐTD mỗi HS sẽ dùng màu 
sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt theo cách riêng của mình vì vậy vẽ SĐTD 
phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của HS, tăng tính độc lập và rèn 
luyện khả năng tự học cho HS. 
- SÐTD – Mind map do Tony Buzan sáng lập là một kiệt tác, có lẽ 
không bao giờ lỗi thời cả. Lần đầu cầm bộ sách TA 6 TĐ tôi thật sự lo lắng 
liệu với khả năng HS lớp 6 có học tốt được không, và mình phải dạy thế nào 
đây, nhưng khi vận dụng SĐTD để dạy tôi càng thấy thích thú. SĐTD không 
chỉ có hiệu quả trong việc dạy môn TA mà còn ở tất cả các môn học khác 
cũng như mọi lĩnh vực khác. 
Như vậy, bản đồ tư duy có vai trò rất quan trọng trong dạy học và đặc 
biệt đổi mới cách tổ chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi 
dưỡng năng lực tự học cho học sinh THCS phù hợp với các mục tiêu đổi 
mới phương pháp dạy học: dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ động, 
chống lại thói quen học tập thụ động. 
 18 
7.3. Bài học kinh nghiệm: 
Trong khi lập một SĐTD thì người thầy cần phải đặt mình vào vị trí 
người học, nhưng người học đấy có một cái nhìn tổng quát hơn, sâu rộng 
hơn và chặt chẽ hơn. SĐTD được lập ra không quá rườm rà nhưng cũng 
không thể quá đơn giản, nó phải có nội dung bao trùm, có khả năng liên kết 
nhiều mạch kiến thức, nhiều nội dung. 
Sử dụng thành thạo và hiệu quả SĐTD trong dạy học sẽ mang lại 
nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và 
phương pháp giảng dạy của giáo viên. Học sinh sẽ học được phương pháp 
học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết 
kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ 
giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một bản đồ thể hiện các liên kết 
chặt chẽ của tri thức. 
Việc sử dụng các phần mềm mind map sẽ làm cho công việc lập

Tài liệu đính kèm:

  • pdfvan_dung_sdtd_de_giup_hoc_sinh_lop_6_he_thong_hoa_mot_so_kie.pdf