Giải pháp Nâng cao hiệu quả giờ Ngữ văn THPT thông qua việc đổi mới hoạt động củng cố, dặn dò

Giải pháp Nâng cao hiệu quả giờ Ngữ văn THPT thông qua việc đổi mới hoạt động củng cố, dặn dò

Thơ là tiếng nói tâm tình, là thanh âm trong trẻo nhất của bản nhạc lòng. Vì vậy thơ rất dễ đi vào lòng người, mang đến cho người nghe những rung động, những cẩm xúc rất lắng đọng, sâu sắc. Một tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ Văn THPT đã gợi cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nhà thơ, và cũng rất nhiều bài thơ nổi tiếng đã ra đời để viết về những nhân vật và những tác phẩm như Chữ người tử tù, Chí Phèo, Truyện Kiều.Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều bài thơ có chủ đề, cảm hứng tương đồng các tác phẩm trong SGK . Nếu giáo viên củng cố bằng học bằng một bài thơ như vậy, học sinh vừa thấy bài học hấp dẫn, xúc động, truyền cảm hơn, lại vừa hiểu bài học sâu sắc hơn, có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm và nhân vật.

 Yêu cầu của cách củng cố này là bài thơ dùng để củng cố phải là bài thơ hay, nội dung sâu sắc và có sự gắn bó, gần gũi với nhân vật, tác phẩm vừa học. Tránh những bài thơ không hay, không có mối quan hệ gần gũi gắn bó với nhân vật, tác phẩm vừa học.

 

doc 23 trang Người đăng Hoài Minh Ngày đăng 16/08/2023 Lượt xem 156Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giải pháp Nâng cao hiệu quả giờ Ngữ văn THPT thông qua việc đổi mới hoạt động củng cố, dặn dò", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n củng cố dặn dò với thời lượng khoảng 5 phút là một phần rất quan trọng của tiến trình lên lớp. Mục đính của phần củng cố nhằm giúp học sinh hệ thống hoá lại được những kiến thức mình cần nắm sau tiết học, khắc sâu, nhớ lâu hơn những kiến thức trọng tâm. Nó chính là phần tổng ôn tập của tiết học. Còn phần dặn dò nhằm giúp cho học sinh biết được, tiết sau học bài gì, cần chuẩn bị những gì cho bài sau. Từ đó học sinh về nhà chuẩn bị cho tiết học tới một cách cụ thể, đúng hướng. Nếu không thực hiện phần củng cố ôn tập, học sinh sẽ mất đi cơ hội được nắm lại kiến thức vừa học chắc chắn hơn, lại vừa không có sự chuẩn bị cần thiết cho tiết học sau.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
	Rõ ràng vai trò của phần củng cố - dặn dò đối với mỗi tiết học là rất quan trọng. Sau mỗi tiết học, học sinh được củng cố lại kiến thức bài học một cách có hệ thống, khoa học, sinh động... sẽ giúp các em khái quát lại và nhớ lâu hơn kiến thức vừa học. Đồng thời cũng nắm được mình cần phải chuẩn bị cụ thể những gì cho tiết học tiếp theo.
	Tuy nhiên, trong thực tê, rất nhiều giáo viên đã bỏ qua hoặc làm chưa tốt phần này, vì các lí do sau
- Phân phối thời gian không hợp lí nên cháy giờ , không còn thời gian cho củng cố dặn dò
- Không đánh giá đúng tầm quan trọng của phần củng cố dặn dò nên thực hiện qua loa, sơ sài, chiếu lệ, thiếu đầu tư, chỉ khoảng 1,2 phút cuối giờ
- Có giành thời gian 4, 5 phút cho củng cố dặn dò nhưng làm rập khuân máy móc, chưa sáng tạo , chưa hấp dẫn, chỉ là thầy thao thao bất tuyệt nhắc lại kiến thức chính cần nhớ hoặc hỏi học sinh rất nhiều câu hỏi về bài học vừa qua.
	- Đưa ra yêu cầu soạn bài không phù hợp với đối tượng học sinh. Nghĩ rằng yêu cầu học sinh về soạn theo câu hỏi sách giáo khoa là xong, trong khi học sinh vùng cao ( THPT số 1 Si Ma Cai ) lại rất yếu về kĩ năng xác định câu hỏi, chưa chăm chỉ nghiên cứu tài liệu, hay làm đối phó cho xong. Vả lại nhiều câu hỏi trong sách giáo khoa còn chung chung, hoặc đưa ra yêu cầu vượt sức với học sinh.
	- Chán nản cho rằng có củng cố dặn dò cũng thế, học sinh vẫn không nắm được bài, không chịu soạn bài nên mặc kệ.
	Người viết có đi dự rất nhiều giờ của các đồng môn trong Tổ tại trường THPT số Si Ma Cai, nhận thấy rằng bên cạnh những giáo viên chú trọng thực hiện đầy đủ nghiêm túc và hiệu quả phần củng cố dặn dò, cũng có những giáo viên thực hiện rất qua loa, sơ sài, cá biệt có cả những tiết dạy không thực hiện phần này. Nhiều giáo viên chỉ nhắc chung chung : bài học của chúng ta đến đây là hết, các em về nhà soạn bài cho bài sau nhé . 
Từ thực tế như vậy, người viết đã nghiên của và đưa ra một số cách đổi mới phần củng cố dặn dò để tiết học đạt hiệu quả tốt hơn.
3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
3.1. ĐỔI MỚI PHẦN CỦNG CỐ
	3.1.1. Củng cố bằng các bài thơ nổi tiếng có liên quan
	Thơ là tiếng nói tâm tình, là thanh âm trong trẻo nhất của bản nhạc lòng. Vì vậy thơ rất dễ đi vào lòng người, mang đến cho người nghe những rung động, những cẩm xúc rất lắng đọng, sâu sắc. Một tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ Văn THPT đã gợi cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nhà thơ, và cũng rất nhiều bài thơ nổi tiếng đã ra đời để viết về những nhân vật và những tác phẩm như Chữ người tử tù, Chí Phèo, Truyện Kiều...Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều bài thơ có chủ đề, cảm hứng tương đồng các tác phẩm trong SGK . Nếu giáo viên củng cố bằng học bằng một bài thơ như vậy, học sinh vừa thấy bài học hấp dẫn, xúc động, truyền cảm hơn, lại vừa hiểu bài học sâu sắc hơn, có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm và nhân vật.
	Yêu cầu của cách củng cố này là bài thơ dùng để củng cố phải là bài thơ hay, nội dung sâu sắc và có sự gắn bó, gần gũi với nhân vật, tác phẩm vừa học. Tránh những bài thơ không hay, không có mối quan hệ gần gũi gắn bó với nhân vật, tác phẩm vừa học.
	Kết thúc bài Chũ người tử tù ( Nguyễn Tuân ), giáo viên có thể đọc cho học sinh nghe bài thơ Chữ người tử tù của nhà thơ Đỗ Ngọc Ngân ( thành viên hội văn học nghệ thuật tỉnh Lào Cai ) để học sinhh thấm thía hơn tư tưởng chủ đề của tác phẩm :
Chữ người tử tù
	( Đỗ Ngọc Ngân )
Như hai mũi tên đồng
Bắt nguồn từ hai phía
Cùng tìm về chữ nghĩa
Giữa hang hùm tối tăm
Từ tù và cai ngục
Một học giả uyên thâm
Một chúa trùm đồ tể
Như hai mạch nước ngầm
Chảy vào kênh thời thế
Cai ngục quỳ xin chữ
Tử tù cổ đeo gông
Chân nặng nề xiềng xích
Tay tô phượng vẽ rồng
In vào hồn núi sông
Mới hay
Xấu xa như địa ngục
Cái đẹp vẫn vượt rào
Thắp sáng tâm hồn quỷ
Bằng tình người thanh cao.
	Kết thúc đoạn trích Trao duyên ( Truyện Kiều – Nguyễn Du ), nhiều học sinh có lẽ rất đồng cảm với Kiều, và cũng băn khoăn sao Kiều khổ như vậy. Trong khi đó thì Thúy Vân ở nhà bình yêu sung sướng. Để học sinh có cái nhìn nhân văn, sâu sắc hơn về nhân vật Thúy Vân, giáo viên có thể đọc bài Tâm sự nàng Thúy Vân của Trương Nam Hương. Qua bài thơ này, học sinh cũng đồng cảm với một phận nữ nhi thời phong kiến 
Tâm sự nàng Thúy Vân
	( Trương Nam Hương )
Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim ?
Ơ kìa ! Sao chị ngồi im ?
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ khuất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu.
Là em nói vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường
Chị nhiều hờn- giận- yêu- thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim
Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!
Kết thúc tác phẩm Tôi yêu em của Putskin, học sinh sẽ rất xúc động trước tình yêu sâu sắc và cao thượng của tác giả. Để nhấn mạnh hơn cho học sinh thấy sự cao thượng trong tình yêu, giáo viên có thể đọc bài Đơn phương của Phạm Đức để củng cố
 Đơn phương
 ( Phạm Đức )
Tôi tìm em, em tìm ai
Để đôi khi tiếng thở dài hòa chung
Gần nhau mà chẳng yêu cùng
Đơn phương tôi cứ thủy chung một mình
Trái tim tôi vẫn để dành
Cho em người vẫn vô tình với tôi
Còn em lại đến với người
Tôi không ghen chỉ buồn thôi thật buồn
Cái bông hoa nở giữa vườn
Hương thơm nhiều lúc lại thường bay xa
Thôi thì em đó tôi đây
Không yêu nhau được dẫu đầy thương yêu
Mong em yêu và được yêu
Đừng như tôi chỉ một chiều tương tư
	Học xong tác phẩm Chí Phèo ( Nam Cao ), ắt hẳn học sinh sễ rất cảm động trước mối tình thị Nở, Chí Phèo, hoặc cũng có học sinh còn nhận thức sai, cho rằng đây là mối tình nực cườiĐể học sinh hiểu sâu sắc hơn hơn hoặc đúng hơn về mối tình này, cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp tâm hồn nhân vật thị Nở giáo viên có thể củng cố bằng bài thơ Nỗi niềm thị Nở của tác giả Quang Huy
 Nỗi niềm Thị Nở
 ( Quang Huy )
Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi nào dở hơi gì
Váy em sắn lệch nhiều khi cũng tình
Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Anh không nhà cửa bạc tiền
Không ưa luồn cúi không yên phận nghèo
Cái tên mơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con Tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao
Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đẵm quá trăng sao lại nhòa
Người ta mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh
Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.
3.1.2. Củng cố bằng sơ đồ
Thay vì diễn giảng bằng lời những nội dung cần khái quát, giáo viên có thể chuẩn bị các nội dung cần khái quát những nội dung chính theo dạng sơ đồ bằng bảng phụ. Những sơ đồ này tác động mạnh đến thị giác, nhận thức của học sinh, làm học sinh khái quát kiến thức được khoa học, dễ nhớ hơn. 
	Tùy theo dặc thù và dung lượng liến thức, giáo viên có thể cung cấp sắn bảng khái quát hoặc để khung bảng khái quát, cho học sinh lên bảng điền nhanh và vắn tắt các kiến thức vừa học, sau đó giáo viên đánh giá cho điểm miệng những học sinh điền đúng kiến thức. Như vậy vừa kiểm tra được mức độ hiểu bài của học sinh, lại vừa tạo hứng thúc học tập cho học sinh
	Kết thúc bài Tuyên ngôn độc lập ( phân tác giả ), giáo viên có thể cung cấp bảng phụ khái quát lại các ý chính trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh trên 3 nét : Quan điểm sáng tác, di sản văn học và phong cách nghệ thuật:
Phong cách nghệ thuật : Độc đáo, đa dạng, thống nhất
- Văn chính luận
- Truyện kí
- Thơ ca
Di sản văn học
- Văn chính luận
- Truyện kí
- Thơ ca
Quan điểm sáng tác
- Văn nghệ là vũ khí...phục vụ Cm 
- Chú trọng tính chân thật và dân tộc của VH
- Chú trọng mục đính, đối tương thưởng thức..
Sự nghiệp văn học của
 Hồ Chí Minh
Với đối tượng học sinh lớp 12a2, là lớp có nhận thức rất yếu, giáo viên có thể sử dụng bảng này để khắc sâu thêm kiến thức cho học sinh. Nhưng với lớp 12 a1 là lớp có nhận thức tương đối tốt, giáo viên có thể để trống các khung trong bảng này và cho gọi học sinh lên điền nhanh kiến thức và cho điểm miệng học sinh đó nếu làm tốt.
	Học đến bài Tác gia Tố Hữu, giáo viên có thể dùng sơ đồ khái quát lại phong cách thơ Tố Hữu về khía cạnh nội dung và nghệ thuật để học sinh khắc sâu hơn kiến thức vừa học:
Phong cách thơ Tố Hữu
Nội dung: là nhà thơ trũ tình chính trị
Nghệ thuật : Đậm đà tính dân tộc
Mang đậm tính sử thi
Hướng tới niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn
Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, chân thành
Thể thơ truyền thống
Ngôn ngữ : Sử dụng lối nói quen thuộc
Bản thân người viết cũng nhiều lần dùng bảng phụ để củng cố dặn dò và nhận thấy dùng bảng phụ rất hiệu quả khi khái quát lại kiến thức bài học. Tuy nhiên, cuối mỗi tiết chỉ nên dùng 1 bảng phụ để khái quát nội dung cần nhấn mạnh. Nếu ử dụng tràn lan vài bảng phụ để khái quát lại tất cả nội dung bài học, phương pháp này sẽ không thật hiệu quả.
Nếu không chuẩn bị trên bảng phụ để học sinh cùng tham gia, giáo viên có thể trình chiếu bản đồ tư duy vào phần củng có bài học. Bản đồ tư duy sẽ giúp khái quát lại nội dung bài vừa học 1 cách khoa học, có hệ thống, làm học sinh ghi nhớ tốt hơn.
3.1.3. Củng cố bằng trò chơi trắc nghiệm
	Trò chơi trong học tập theo tinh thần học mà chơi, chơi mà học sẽ tạo cho học sinh tâm lí thoải mái, hứng thú khi tiếp nhận kiến thức. Khi củng cố cũng vậy, nếu giáo viên áp dụng trò chơi vào củng cố, học sinh vừa có được phần củng cố kiến thức mới lạ, lại vừa hào hứng hơn trong học tập.
	Người viết đã củng cố một số bài học bằng trò chơi này. Người viết chuẩn bị sẵn các gói câu hỏi ( Khoảng 5 câu trắc nghiệm đúng sai một nhóm ), gọi 3 nhóm tham gia trò chơi ( mỗi nhóm 02 học sinh ). Nhóm 1 có 1 học sinh đọc câu hỏi, 1 học sinh trả lời 5 câu hỏi đó theo lựa chọn đúng hoặc sai, sau đó lần lượt đến nhóm khác với gói câu hỏi khác. Nếu nhóm nào trong 1 phút trả lời đúng nhất các đáp án, nhóm đó sẽ được điểm miệng, được khen ngợi.
	Nhóm học sinh lên bảng có thể là đại diện cho Tổ, hoặc có tinh thần xung phong. Tuy nhiên, cũng có thể ta gọi những học sinh không giơ tay để các em lên chơi, nếu trả lời sai thì động viên chứ không cho điểm thấp. Điều này giúp cho các em mạnh dạn hơn trong các hoạt động học tập. 
Ví dụ, khi kết thúc bài Vợ chồng A Phủ, người viết có 3 goi câu hỏi trắc nghiệm sau
Gói 1 : Những chi tiết, nhận định nào dưới đây là đúng ?
1. Tô Hoài là nhà văn có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học Việt Nam
2. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ in trong tập Cứu đất cứu mường
3. Cha mẹ Mị lấy nhau không có tiền phải vay nhà thống lí, mỗi năm trả lãi bằng một nương ngô
4. Tết năm ấy, sau khi nghe tiếng khèn, Mị ngồi nhẩm thầm theo lời bài hát của người đang thổi
5.Nhân vật Mị có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ.
 ( Đáp án : 1,3 ,5 đúng, 2,4 sai )
Gói 2 : Những chi tiết, nhận định nào dưới đây là đúng ?
1. Tô Hoài là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng miền khác nhâu trên đất nước ta.
2. Truyện Vợ chồng A Phủ được viết vào năm 1954, khi chiến thắng Điện Biên Phủ
3. Mị không dám ăn lá ngón chết vì khiếp sợ cái chết đau đớn.
4. Căn buồng của Mị kín mít, cửa sổ là một lỗ vuông bằng bàn tay, nhìn ra lúc nào cũng tháy trăng trắng, không biết là sương hay nắng..
5. Tác phầm Vợ chồng A Phủ mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc
( Đáp án 1, 4, 5 đúng, 2,3 sai )
Gói 3. Những chi tiết, nhận định nào dưới đây là đúng ?
1. Sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả những sự thật của đời thường
2. Mấy năm làm dâu cho nhà thống lí, lúc nào Mị cũng lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.
3. Ngày Tết, Mị lén lấy rượu uống ừng ực từng bát như uống hết khổ đau của phần đời đã qua và uống cả những khát khao của phần đời chưa tới.
4. Khi thấy dòng nước mắt trên má A Phủ, Mị nghĩ đàn ông con trai gì mà lại khóc, sao mà yếu đuối vậy
5. Sau khi cởi trói cho A Phủ, A Phủ khuỵu xuống, Mị dìu A Phủ đứng lên rồi cả hai cùng nắm tay nhau chạy đi.
 ( Đáp án 1,2,3 đúng, 4,5 sai )
Lần lượt 3 cặp lên thực hiện hỏi và trả lời, mỗi cặp có thời gian suy nghĩ và trả lời tối đa 1 phút, giáo viên cùng học sinh còn lại sẽ làm giám khảo và đánh giá.
Việc củng cố bài học bằng trò chơi trắc nghiệm có thể áp dụng được ở rất nhiều bài. Việc củng cố theo hình thức trên đòi hỏi giáo viên cần có sự chuẩn bị trước, biên soạn các gói câu hỏi, đồng thời đóng vai trò là người điều khiển để không khí tham gia trò chơi sôi nổi, vui vẻ. Các câu hỏi cần bám sát nội dung bài học. Tùy theo đối tượng học sinh để biên soạn mức độ khó của câu hỏi. Bài học vừa được ôn lại qua hệ thống câu hỏi, học sinh lại vừa được học tập trong bầu không khí thân thiện, cởi mở, vui tươi.
3.1.4. Củng cố bằng âm nhạc, trích đoạn phim, clip ngắn.
Âm nhạc, phim, clip ngắn thường được sử dụng trong phần khởi động của bài học. Điều này rất tốt bởi nó tạo cho học sinh tâm thế hứng khởi với bài học. Tuy nhiên, phần khởi động thường có thời lượng chỉ từ 1 đến 2 phút. Trong 2 phút đó, giáo viên vừa phải tạo tâm thế hứng thú học tập cho học sinh, lại vừa phải giới thiệu khái quát mục tiêu bài học, nên nhiều khi không đủ thời gian để trình chiếu trọn vẹn 1 bài hát, 1 trích đoạn phim hay 1 clip ngắn. Vậy nên, trong một số trường hợp, cố thể sử dụng 1 bài hát, 1 trích đoạn phim hay 1 clip ngắn ở phần củng cố, tạo nên ấn tượng sâu sắc hơn về bài học cho học sinh.
Âm nhạc rất dễ lan tỏa vào tận sâu thẳm trong tâm hồn, trái tim mỗi con người. Dư âm lắng đọng mà 1 bài hát hay để lại đôi khi theo con người đến suốt cuộc đời. Việc kết hợp 1 bài hát phù hợp với nội dung bài học sẽ tạo được một hiệu ứng tâm lí rất tốt để âm nhạc hỗ trợ cho cảm xúc văn học của học sinh thăng hoa sau một giờ Ngữ văn. Bản nhạc, bài hát được chọn cần phải có sự phù hợp, tương thích nhất định với bài học thì hiệu ứng này mới hiệu quả.
Ví dụ như sau khi kết thúc bài Đàn ghi- ta của Lor- ca ( Thanh Thảo ), giáo viên có thể cho học sinh nghe bài Nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây dàn Ghita ( Thế Hiển ) để học sinh có ấn tượng và cảm nhận sâu sắc hơn về hình tượng nhân vật Lorca. Sau khi học xong bài thơ Sóng ( Xuân Quỳnh) , có thể cho học sinh nghe bài Thuyền và Biển ( Nhạc Phan Huỳnh Điểu, thơ Xuân Quỳnh ) để học sinh hiểu rõ hơn hồn thơ Xuân Quỳnh và tâm trạng, cảm xúc của người con gái đang yêu. Học xong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông ( Hoàng Phủ Ngọc Tường ) có thể cho học sinh nghe bài hát Dòng sông ai đã đặt tên ( sáng tác trần Hữu Pháp ) cùng clip vè sông Hương để học sinh thêm yêu mến con sông đầy trữ tình, thơ mộng này. Khi học xong bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS của Cô – phi An – nan, giáo viên cos thể cho học sinh nghe bài hát và clip Hòa nhịp con tim ( sáng tác Huy Tuấn ) đầy xúc động :
Cùng hoà nhịp con tim
Cùng tình người ấm áp
Cùng nhau chung giấc mơ khắp nơi trên đất này
Mọi người sẻ chia với nhau từ niềm vui hay nỗi buồn
Giống như lời mẹ ngày ấu thơ
Sẻ chia với nhau vui buồn.
Nhớ vẫn nhớ lúc xưa ta còn thơ
Phút ấm áp cánh tay mẹ nhẹ ru
Trao cho ta yêu thương hạnh phúc mỗi khi ta buồn vui 
Có nơi mẹ trở che
Hãy nắm lấy cánh tay cần sẻ chia
Hãy đến với trái tim nồng ấm tình người
Trao cho nhau yêu thương hạnh phúc
Tựa lời mẹ ru tháng ngày, ru ngày xưa bé thơ
Cùng hoà nhịp con tim, cùng tình người ấm áp
Cùng nhau chung sức ta xây nên trái đất này
Chỉ còn tình yêu chứa chan nồng nàn trong tim mỗi người
Hãy cho nhau từng ngày ấm êm cùng nhau sống trong yên bình
Hãy nắm lấy cánh tay cần sẻ chia
Hãy đến với trái tim nồng ấm tình người
Trao cho nhau yêu thương hạnh phúc
Tựa lời mẹ ru tháng ngày, ru ngày xưa bé thơ 
Cùng hoà nhịp con tim, cùng tình người ấm áp
Cùng nhau chung sức ta xây nên trái đất này
Chỉ còn tình yêu chứa chan nồng nàn trong tim mỗi người
Hãy cho nhau từng ngày ấm êm cùng nhau sống trong yên bình
	Cả bài hát và clip dài khoảng 4 phút cho học sinh những giây phú thật xúc động về tình người, về sự cảm thông, sẻ chia trong cuốc sống. Có lẽ hiệu quả của bài học sẽ nhân lên gấp bội từ bài hát này.
	Khi dạy nghị luận xã hội, có rất nhiều vấn đề về hiện tượng đời sống hay tư tưởng đạo lí đã được dựng thành các bộ phim ngắn hay clip làm xúc động tới hàng triệu con người. Qua mạng Internet, giáo viên có thể sưu tầm, chọn lọc các phim ngắn, clip này, cho học sinh xem để học sinh hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề xã hội đã và đang quan tâm như : An toàn giao thông, ô nhiễm môi trường, sự gian lận trong thi cử, tấm gương người tốt việc tốt, bệnh vô cảm, tinh thần tự họcChỉ cần chiếu 1 clip tổng hợp về tai nạn giao thông hay ô nhiễm môi trường khoảng 4 phút , có lẽ sẽ hiệu quả hơn cả 1 buổi tuyên truyền. Những hình ảnh, minh chứng, lời bình, thông điệp từ clip sẽ cho học sinh biết cách đánh giá, bình luận về một hiện tượng đồi sống, 1 tư tưởng đạo lí rõ hơn.
	Khi lựa chọn các trích đoạn phim ngắn, các clip cho học sinh xem để củng cố bài học, giáo viên cần lưu ý lựa chọn nững bộ phim, clip mang tính nhân văn, có hiệu quả giáo dục cao và phải gắn bó mật thiết với nội dung bài học. tránh những clip phản cảm, không mang tính giáo dục. 
3.2. ĐỔI MỚI PHẦN DẶN DÒ
.Yêu cầu chuẩn bị soạn bài bằng phiếu học tập
Trong sách giáo khoa, có nhiều bài đưa ra các câu hỏi chung chung hoặc tương đối khó với học sinh vùng cao. Ví dụ như trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông ( Hoàng Phủ Ngọc Tường ) có 5 câu, trong đó có những câu chung chung ( Câu 1 : Sông Hương vùng thượng lưu được miêu tả như thế nào ? ) hoặc có câu rất khó ( câu 2 : Đoạn tả sông Hương chỷ xuôi về đồng bằng và ngọi vi thành phố bộc lộ những phẩm chất nào trong ngòi bút tác giả? Hiệu quả thẩm mĩ của lối viết đó ). Thực tế học sinh vùng cao, nhiều em học đến lớp 12 còn chưa sử dụng thành thạo tiếng Việt, còn chưa hiểu thượng lưu , thủ pháp hay hiệu quả thẩm mĩ là gì. Nếu chỉ hỏi Sông Hương vùng thượng lưu được miêu tả như thế nào, nhiều học sinh chỉ biết trả lời trong vở soạn là được miêu rả rất đẹp. Còn về hiệu quả thẩm mĩ của loiis viết trong ý hỏi của câu 2, thì gần như 100 % học sinh không biết trả lời.
	Xuất phát từ thực tế như vậy, người viết đã thiết kế phiếu học tập, phát cho sinh về nhà chuẩn bị nội dung cho bài học ngày hôm sau với những yêu cầu cụ thể, rõ rằng hơn . Ví dụ: 
Phiếu học tập bài : AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG
	( Hoàng Phủ Ngọc Tường )
Chuẩn bi cho tiết 1
Yêu cầu : Đọc văn bản “ Ai đã đặt tên cho dòng sông trong” trong sách giáo khoa , hoàn thiện phiếu sau 
Sông Hương trên dãy Trường Sơn
Giữa lòng Trường Sơn
Hình ảnh so sánh và miêu tả : 
Tính cách con sông
Nghệ thuật miêu tả
Trước khi ra khỏi rừng
Yêu cầu chuẩn bị cho tiết 2 :Đọc văn bản và hoàn thiện :
Sông Hương với thành phố Huế
Ở ngoại vi thành phố Huế
Hình ảnh so sánh và miêu tả : 
Tính cách con sông
Nghệ thuật miêu tả
Trong lòng thành phố Huế
Trước khi từ biệt Huế
Sông Hương với lịch sử, thơ ca
Nhận định
Dẫn chứng
Sông Hương với lịch sử
Sông Hương với thơ ca
Hoặc với bài người lái đò sông Đà, người viết cung cấp cho học sinh phiếu học tập về chuẩn bị cho tiết 1 như sau 
Phiếu học tập : Người lái đò Sông Đà
 ( Nguyễn Tuân )
Soạn bài cho tiết 1 : Yêu cầu đọc tác phẩm, hoàn thiện phiếu sau: 
Hình tượng con sông Đà
Sông Đ

Tài liệu đính kèm:

  • docgiai_phap_nang_cao_hieu_qua_gio_ngu_van_thpt_thong_qua_viec.doc
  • docBao cao tom tat hieu qua sang kien. vi thi hue.doc
  • docDon yeu cau cong nhan sang kien. vi thi hue.doc