Đề tài Một vài kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn cấp THCS

Đề tài Một vài kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn cấp THCS

Vận dụng kiến thức liên môn vào trong quá trình dạy học là rất quan trọng đối với môn học Ngữ văn vì đây cũng là môn học có nghiên cứu đến cả kiến thức tự nhiên lẫn xã hội. Nhờ vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau nên chúng ta có thể tự giải quyết được một số kiến thức trong môn học. Trau dồi thêm kiến thức cho bản thân, làm quen với quá trình hoạt động nhóm, kết hợp được “học đi đôi với hành”.

 Để thực hiện thành công một tiết dạy thì sực chuẩn bị của giáo viên là rất cần thiết, giáo viên ngoài việc xác định mục đích, yêu cầu, đồ dùng dạy học liên quan thì việc chuẩn bị giáo án là vô cùng quan trọng: Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn không phải là một bản đề cương kiến thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho học sinh thực hiện trong giờ lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo dục và giáo dưỡng của bộ môn. Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một là, hệ thống các tình huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan của bài dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Hai là, một hệ thống các hoạt động, thao tác tương ứng với các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm hướng dẫn học sinh từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài học một cách tích cực và sáng tạo. Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải bám chặt vào những kiến thức các bộ môn có liên quan. Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải bảo đảm nội dung và cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra những khoảng trống mở cho sự tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của học sinh

doc 21 trang Người đăng honghanh96 Ngày đăng 30/10/2018 Lượt xem 243Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Một vài kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn cấp THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
để giải quyết một vấn đề nào đó trong một môn học là việc làm hết sức cần thiết. Điều đó đòi hỏi người giáo viên bộ môn không chỉ nắm chắc môn mình dạy mà còn phải không ngừng trau dồi kiến thức các môn học khác để tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Dạy học vận dụng kiến thức liên môn giúp giờ học trở nên sinh động hơn, vì không chỉ có giáo viên là người trình bày mà học sinh cũng tham gia vào quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Dạy học liên môn cũng góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh, tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo.
II.2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi: 
Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn sẽ làm cho quá trình học tập có ý nghĩa; Xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn. Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống, lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học, tránh những kiến thức, kỹ năng trùng lặp; Các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh; Có điều kiện phát triển kỹ năng chuyên môn. 
* Khó khăn:
Tuy nhiên khi thực hiện môn tích hợp cũng gặp phải những khó khăn như: Còn mới đối với nhà trường, với giáo viên, với phương diện quản lý, tâm lý học sinh và phụ huynh học sinh cũng như các nhà khoa học của mỗi bộ môn; Các chuyên gia, các nhà sư phạm đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm, các chuyên viên phụ trách môn học, họ khó có thể chuyển đổi từ chuyên môn sang lĩnh vực mới cần sự kết hợp với chuyên ngành khác mà họ đã gắn bó. Mặt khác giáo viên và các cán bộ thanh tra, chỉ đạo thường gắn theo môn học, không dễ gì có thể yêu cầu họ thực hiện chương trình tích hợp các môn học; Phụ huynh học sinh và những người lớn khó có thể ủng hộ những chương trình khác với chương trình mà họ có đã được học.
 Nhiều em học sinh xem môn Ngữ văn là môn học khó, học thuộc nhiều đặc biệt nhiều phụ huynh học sinh còn định hướng cho con em mình học thiên về các môn tự nhiên nên còn sao nhãng trong việc học tập.
 Một số ít giáo viên chưa xác định rõ trọng tâm kiến thức, chưa có kinh nghiệm lồng ghép các môn học trong tiết dạy để làm cho tiết dạy hứng thú hơn. Lượng kiến thức trong một bài dạy nhiều song thời gian cho mỗi tiết học thì ít, đời sống giáo viên còn thấp, học sinh ít hứng thú với các môn xã hội...
 b. Thành công, hạn chế
* Thành công
 Sau mỗi tiết dạy, khi vận dụng các phương pháp này thì chúng tôi cảm thấy rất tự tin và thỏa mãn hơn, các em vận dụng được nhiều môn học trong một tiết học, giáo viên truyền đạt được cho học sinh hệ thống kiến thức mở rộng và nâng cao khá phong phú, đa dạng, các em học tập say mê hơn, thích thú hơn.
 Khơi dậy trong các em niềm đam mê khám phá, phát huy tính độc lập, sáng tạo ở học sinh chính vì thế chất lượng bộ môn ngày càng được nâng cao.
* Hạn chế
Vận dụng phương pháp này sẽ gặp không ít khó khăn đối với những giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, vì ở những vùng này điều kiện về cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế.
c. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Giáo viên chủ động về phương pháp và kiến thức trong mỗi bài dạy. Học sinh nắm chắc kiến thức, có hệ thống, kích thích khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh. Giúp các em chủ động, tích cực chiếm lĩnh tri thức.
	* Mặt yếu. 
Phương pháp dạy học trên sẽ khó khăn cho những giáo viên trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong dạy học, vì ngoài nắm chắc kiến thức bộ môn còn phải hiểu và nắm kiến thức của các môn học mà mình ý định vận dụng. Đây là phương pháp còn mới đối với nhà trường, với giáo viên, tâm lý học sinh và phụ huynh cũng như các nhà khoa học của mỗi bộ môn.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
* Nguyên nhân thành công.
Những năm gần đây quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thực hiện nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá IX, lối dạy truyền thụ một chiều đang được khắc phục, việc rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của học sinh đã và đang được quan tâm.
 Bộ môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung được các cấp lãnh đạo, Ban giám hiệu nhà trường và xã hội quan tâm nhìn nhận tích cực hơn.
	Giáo viên dạy nhiệt tình, tích cực và có tinh thần trách nhiệm cao.
 Học sinh học tự giác, chăm chỉ học tập.
 * Nguyên nhân của hạn chế.
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do nhiều người chưa nhận thức đúng, đầy đủ vai trò vị trí của bộ môn học. Sự lạc hậu về phương pháp dạy học, sự lười biếng suy nghĩ tìm tòi, vận dụng, sáng tạo của không ít giáo viên và học sinh.
	Nhiều giáo viên chưa quán triệt vận dụng linh hoạt các nguyên tắc phương pháp dạy học, thiếu đầu tư tâm sức thời gian cho tìm hiểu tư liệu, cập nhật thông tin, chưa chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh gây hứng thú ham mê tìm tòi vận dụng trong học tập của học sinh, soạn giảng qua loa đại khái để rồi lên lớp “ Thầy đọc giáo án – trò ngán vô cùng!” Trong thực tế không ít giáo viên còn quá rập khuôn trong bài giảng nên dẫn đến sự khô khan và thiếu sinh động. Mặt khác, việc tích cực chủ động và tìm tòi tài liệu ở học sinh còn hạn chế, các em chưa nắm bắt kịp thời các thay đổi về kinh tế xã hội của đất nước.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Ngày nay công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng rộng rãi, nhờ vậy mà giáo viên và các em học sinh có rất nhiều thuận lợi trong việc thu thập tài liệu học tập nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Môn Ngữ văn là môn học nghiên cứu nhiều vấn đề về đời sống con người và xã hội vì thế vấn đề cập nhật kiến thức qua mạng, qua các phương tiện thông tin đại chúng là vô cùng quan trọng. Các kiến thức, số liệu luôn thay đổi nên học sinh càng hứng thú hơn, quan tâm nhiều hơn đến môn học. 
Mặt khác nhiều em học sinh đã có hứng thú và đam mê với môn học vì vậy trong các tiết học các em rất say mê học tập.
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với công tác giáo dục nên trường lớp ngày càng khang trang, thiết bị dạy học ngày càng phong phú hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên khi lên lớp, nhưng ở không ít trường đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu cho dạy và học của giáo viên và học sinh.
II.3. Giải pháp, biện pháp: 
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nói chung, chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn nói riêng
- Là động lực thúc đẩy phong trào thi đua học tập ở học sinh
- Tạo điều kiện thuận lợi cho những học sinh có năng lực, có niềm đam mê, có sáng tạo trong học tập bộ môn
 - Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong mỗi học sinh, rèn luyện cho các em thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác và có niềm vui trong học tập.
 - Việc vận dụng tốt kiến thức của nhiều môn học để giải quyết một tình huống nào đó góp phần bổ sung cho các em kiến thức các môn học khác, giúp học sinh nắm được mối quan hệ giữa các môn học từ đó các em hứng thú, say mê học tập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học nói riêng và môn học nói chung.
 b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
 Vận dụng kiến thức liên môn vào trong quá trình dạy học là rất quan trọng đối với môn học Ngữ văn vì đây cũng là môn học có nghiên cứu đến cả kiến thức tự nhiên lẫn xã hội. Nhờ vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau nên chúng ta có thể tự giải quyết được một số kiến thức trong môn học. Trau dồi thêm kiến thức cho bản thân, làm quen với quá trình hoạt động nhóm, kết hợp được “học đi đôi với hành”.
 Để thực hiện thành công một tiết dạy thì sực chuẩn bị của giáo viên là rất cần thiết, giáo viên ngoài việc xác định mục đích, yêu cầu, đồ dùng dạy học liên quanthì việc chuẩn bị giáo án là vô cùng quan trọng: Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn không phải là một bản đề cương kiến thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho học sinh thực hiện trong giờ lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo dục và giáo dưỡng của bộ môn.  Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một là, hệ thống các tình huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan của bài dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Hai là, một hệ thống các hoạt động, thao tác tương ứng với các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm hướng dẫn học sinh từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài học một cách tích cực và sáng tạo. Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải bám chặt vào những kiến thức các bộ môn có liên quan. Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải bảo đảm nội dung và cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra những khoảng trống mở cho sự tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của học sinh, trên cơ sở bảo đảm được yêu cầu chung của giờ học.
 Nội dung dạy học của thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải chú trọng nội dung tích hợp giữa tri thức bộ môn mình dạy với các quan điểm tích hợp phải chú trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương ứng là các hoạt động phức hợp để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng của các phân môn vào xử lí các tình huống  đặt ra, qua đó chẳng những lĩnh hội được những tri thức và kĩ năng riêng của từng phân môn mà còn chiếm lĩnh tri thức và phát triển năng lực tích hợp.
Để vận dụng các môn học vào tiết dạy đạt hiệu quả cũng cần có sự phối hợp của học sinh, vì thế giáo viên giao cho các em về nhà tìm hiểu, nghiên cứu trước bài học, chuẩn bị một số dụng cụ, ...
Đối với các bài có liên quan đến nhiều môn học thì giáo viên phải xác định nội dung liên môn cho phù hợp, cách liên môn như thế nào? Vì môn học có liên quan cả kiến thức tự nhiên và xã hội. Giáo viên phải biết chọn lọc môn học để thực hiện liên môn để các em nắm chắc, hiểu sâu hơn kiến thức môn học và các môn liên quan.
Ví dụ 1: Khi dạy văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (Lớp 9), ta cần vận dụng vào nhiều môn học:
- Lịch sử : Lịch sử hình thành của chiến tranh và các sự kiện, mốc thời gian xảy ra chiến tranh.
- Địa lí : Các quốc gia, địa điểm bị chiến tranh tàn phá và hậu quả mà nó gây ra cho  nền kinh tế, dân cư, xã hội, chính trị của các quốc gia đó.
- Hoá học : Thành phần của chất độc hoá học sử dụng trong các cuộc chiến tranh.
- Sinh học : Bệnh, tật di truyền xảy ra do hậu quả của chiến tranh.
- Giáo dục công dân : Bài học về lòng yêu hoà bình và thái độ chống lại chiến tranh, chạy đua vũ trang...
- Toán : Thống kê số liệu về hậu quả của chiến tranh.
 	- Ngữ văn : Sử dụng từ ngữ, phương thức biểu đạt phù hợp cho bài văn.
- Số liệu thống kê của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Krông Ana.
Việc kết hợp các kiến thức liên môn như Lịch sử, Địa lý, Hoá học, Sinh học, Giáo dục công dân... vào môn Ngữ văn rất quan trọng, giúp cho bài học bao quát, đầy đủ ý hơn. Việc kết hợp này giúp ta có thể đưa ra các dẫn chứng, khái niệm, thuật ngữ một cách chính xác, có căn cứ từ đó khiến cho bài học có sức thuyết phục cao.
Tiết học đem lại cho người đọc những thông tin khách quan về vấn đề bảo vệ hoà bình qua đó giúp họ hiểu rằng đây là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết. Tuyên truyền tới mọi người để cùng nhau bảo vệ một thế giới hoà bình, chống lại chiến tranh và chạy đua vũ trang.
Kiến thức liên môn đã tạo cho học sinh tính chủ động, sáng tạo; giúp học sinh có điều kiện để vận dụng kiến thức mình đã được học ở nhà trường và cuộc sống vào thực tiễn để củng cố kiến thức của mình.
Ví dụ 2: Khi dạy Bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất ( Lớp 7)
Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
Để học sinh nắm được Ngày đêm, dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ. Tôi sử dụng kiến thức Địa lí để khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức mới học để giải thích ?
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng”
Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến bán cầu bắc. Tháng 5 âm lịch của Việt Nam tương ứng là tháng 6 dương lịch. Tháng 6 dương lịch BCB là mùa hè.
 Ngày 22/6 hàng năm, tia bức xạ mặt trời chiếu vuông góc với tiếp tuyến bề mặt trái đất tại chí tuyến bắc (23o27’B) nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầu Bắc (Việt Nam) dài. Càng về phía Cực Bắc ngày càng dài, đêm càng ngắn, nên có hiện tượng ngày dài, đêm ngắn.
“Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Vào ngày 22/12 (tháng 10 âm lịch), Mặt trời chuyển động biểu kiến về chí tuyến Nam và vuông góc tại bề mặt đất tại tiếp tuyến 23o27’N (Chí tuyến Nam) thì ở BCN lúc này ngày dài đêm ngắn và ở BCB (Việt Nam) hiện tượng ngày ngắn - đêm dài nên.
Hoặc: Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
 Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.
Để hỏi học sinh: Các em đã được tìm hiểu điều kiện ngưng đọng hơi nước trong khí quyển, điều kiện hình thành mây và mưa. Hãy dựa vào mối liên hệ giữa sinh vật và hiện tượng thời tiết để giải thích tại sao én bay thấp - cao có liên quan đến hiện tượng mưa to hay mưa rào?
Giải thích:
Trong số các loài côn trùng: chuồn chuồn, các loài mối, muỗi nhỏ mà chúng ta không nhìn thấy hay các loài sinh vật như chim én thường thì vào cuối xuân đầu hạ, quan sát ở ngoài đồng, nếu thấy chúng bay thành đàn sà thấp xuống mặt đất thì thường sau đó, trời sẽ mưa.
Nguyên nhân là trước lúc trở trời, trong không khí có nhiều hơi nước, đọng vào những bộ cánh mỏng của côn trùng, làm tăng tải trọng, khiến chúng chỉ có thể bay là là sát mặt đất.
Người nông dân chỉ đúc kết kinh nghiệm về thay đổi thời tiết của độ bay cao, thấp của con chuồn chuồn. Học sinh khi học phần khí hậu (khí quyển, khí áp, gió, mưa...) sẽ giải thích độ cao, thấp của chuồn chuồn khi bay với hiện tượng “mưa, nắng” là do yếu tố áp suất không khí và độ ẩm.
 ( “Én bay thấp mưa ngập bờ ao. Én bay cao mưa rào lại tạnh”
Vì áp thấp, ngột ngạt, nên nhiều loài sâu bọ cũng chui lên khỏi mặt đất. Chim én bay xuống thấp chính là để bắt những côn trùng, sâu bọ này. Cho nên, cứ mỗi khi thấy chim én bay thành đàn sà xuống, người ta lại nói rằng trời sắp có mưa.
Hoặc 
Trong dân gian mới có câu:“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”
Nhưng nếu thấy: “Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”
Hay:   “Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”
Vào tháng 7, mùa hè của nửa Cầu Bắc (Việt Nam), nhiệt độ không khí ở trên lục địa cao hình thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ Thái Bình dương vào gây nên những trận mưa lớn cùng với sự xuất hiện của các khí áp thấp gây nên mưa bão ở Bắc bộ và Bắc trung Bộ. 
 Do ảnh hưởng của địa hình: dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ, dãy Trường Sơn Bắc (Bắc Trung Bộ) nên khi có gió Tây Nam (gió Nam) chỉ gây mưa ở Nam bộ và Tây Nguyên. Còn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ không có mưa. Tương tự “cơn đàng Bắc...” là ảnh hưởng của khối khí ôn đới xuất phát từ cao áp lục địa (Xibia) tính chất lạnh và khô nên không gây mưa.
Ví dụ 3:
 Khi dạy bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính( Lớp 9), giáo viên liên hệ đến những câu hát:
Trường sơn Đông, Trường sơn Tây
Bên nắng đốt, bên mưa quay.
Hoặc:
Anh lên xe trời đổ cơn mưa, cái gạt nước xua đi nỗi nhớ
Em xuống núi, nắng vàng rực rỡ.....	
Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào kiến thức môn Văn các em đã học nhắc lại một bài thơ đã được phổ thành nhạc mà nó phản ánh rất thực tế khí hậu của miền trung vào mùa hè: gió mùa Tây nam từ biển thổi vào do dãy trường sơn Bắc chắn lại nên mưa trút hết bên sườn đón gió, sang đến sườn khuất gió thì đã biến tính trở nên nóng và khô ( Gió lào)
	 Dựa vào kiến thức môn Toán để tính nhiệt độ trung bình tháng, lượng mưa trung bình tháng của 3 điểm Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí minh
Ví dụ 4: Khi dạy văn bản nhật dụng Thông tin về ngày trái đất năm 2000 
( Lớp 8), giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào môn Sinh học: Biết được nước rất cần thiết đối với sự sống của chúng ta, tuy nó không phải là chất dinh dưỡng, chúng ta có thể nhịn ăn 1 tuần nhưng không thể nhịn uống trong 3 - 5 ngày được. Cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của nước, chúng ta phải biết quý trọng nguồn nước, phải biết bảo vệ sự trong sạch của các dòng sông nơi chúng ta sinh sống vì hiện nay một số con sông đang bị ô nhiễm nặng
Ví dụ 5: Vận dụng kiến thức liên môn để dạy bài: Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn ( Lớp 8)
- Dựa vào kiến thức Lịch sử để biết được đây là đồng bằng có lịch sử hình thành lâu đời nhất. Đồng bằng Sông Hồng gắn liền với nền văn minh lúa nước: Cách đấy 4 nghìn năm, tại vùng đồng bằng này nhân dân ta đã đặt nền móng cho việc trồng lúa nước của nước ta và sông Hồng cũng là con sông gắn liền với nền văn minh nước ta: văn minh sông Hồng, văn hóa Việt Nam.
- Qua kiến thức Mỹ thuật để tìm hiểu các kiến trúc ở vùng này: Kinh thành Thăng Long, chùa một cột, lăng Bác...
- Qua kiến thức Âm nhạc để học sinh tìm hiểu, sưu tầm các bài hát về Hà Nội, về Lăng Bác..
- Qua kiến thức môn Giáo dục công dân để giáo dục học sinh biết bảo tồn và lưu giữ các công trình kiến trúc, di tích lịch sử thời xưa để lại.
- Môn Toán: Tính bình quân đất nông nghiệp đầu người ở vùng này để thấy được đây là vùng có mật độ dân số cao nhất cả nước dẫn đến bình quân đất nông nghiệp đầu người thấp nên cần có biện pháp thích hợp để điều chỉnh phân bố lại dân cư hợp lý.
Ví dụ 6 : Khi dạy bài Bài toán dân số ( Lớp 8)
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh dựa vào kiến thức môn Toán để tính được: Dân số nước ta đông và tăng nhanh, mỗi năm dân số nước ta tăng khoảng 1 triệu người, với mật độ dân số cao 254 người/km2, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1.3%
Mặt khác chúng tôi yêu cầu học sinh dựa vào kiến thức Hóa học để giải thích: Dân số đông và tăng nhanh gây ô nhiễm do các chất khí thải ra từ sinh hoạt như CO, SO2, CO2, NO2nó vô cùng có hại đến sức khỏe của con người 
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
* Đối với giáo viên
	- Để thành công trong tiết dạy việc chuẩn bị của giáo viên là vô cùng quan trọng. Ngoài việc xác định mục đích, yêu cầu, đồ dùng dạy học liên quan đến bài dạy thì giáo viên còn dự kiến cho bài dạy, mục dạy nào cần phải sử dụng nhiều môn học để giải quyết vấn đề cần nêu ra
	- Để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn người giáo viên phải yêu nghề, có tâm huyết với nghề, có bề dày kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc
	- Không ngừng trau dồi kiến thức, nắm vững kiến thức về bộ môn, phải biết phối hợp các phương pháp khác để phát huy tối ưu nhất hiệu quả cảu việc vận dụng kiến thức liên môn
	- Thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy để học sinh thấy được ngoài lời giảng, lời giải thích, thuyết trình của giáo viên các em còn được xem những video, những hình ảnh thực tế sinh động, những hình ảnh các môn học khác liên quan đến môn Ngữ văn
	- Trong giảng dạy luôn tạo được không khí giờ dạy nhẹ nhàng thoải mái học mà chơi, chơi mà học, quan tâm giúp đỡ được cả 3 đối tượng học sinh đặc biệt là đối tượng học sinh giỏi và đối tượng học sinh yếu kém nhằm mục đích hạn chế tỉ lệ học sinh yếu kém và nâng cao tỉ lệ học sinh khá giỏi giúp các em có hứng thú học tập và yêu thích môn học.
* Đối với học sinh
	- Xây dựng cho bản thân một kế hoạch, thời gian biểu cụ thể, hợp lý, đảm bảo hài hòa giữa học tập, sinh hoạt, giải trí và giúp đỡ gia đình...
	- Nắm vững kiến thức cơ bản, chú ý tới những mục Sgk cần lưu ý và chịu khó học bài và làm bài tập ở nhà.
	- Tránh quay cóp - học vẹt vì thuộc bài chưa chắc đã áp dụng để làm bài tập được. Học sinh cũng tự xây dựng cho mình một tủ sách riêng.
	d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Tất cả các giải pháp, biện pháp được xây dựng để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài đặt ra đều phải được thực hiện đồng bộ, không nên xem nhẹ biện pháp này và đặt nặng biện pháp kia. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau, tồn tại trong sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Sự thay đổi sự vật, hiện tượng này có thể bắt nguồn từ sự thay đổi sự vật hiện tượng khác, và đồng thời nó sẽ ảnh hưởng đến một sự vật, hiện tượng khác nữa. Do đó, khi nhận thức về một vấn đề, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan

Tài liệu đính kèm:

  • docthcs_75_6939_2010969.doc