Sáng kiến kinh nghiệm Các biện pháp để nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Vật lý ở trường THPT

Sáng kiến kinh nghiệm Các biện pháp để nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Vật lý ở trường THPT

Bước 3: Tiếp theo là giai đoạn người học thực hiện kế hoạch học tập

 Đây là giai đoạn quyết định sự thành công của việc học. Giai đoạn này bao gồm các công việc: làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập, xemina, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề. Ở giai đoạn này người học phải vận dụng những kỹ năng học tập có thể có được để thực hiện tố kế hoạch học tập Đó là những nhóm kỹ năng như:

 a. Kỹ năng về tri thức: ghi chép bài học, tóm tắt (hệ thống, tự liên hệ thông tin mới với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ, phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, tương tự, quy nạp – diễn dịch , và thay thế tức là tự hành động tìm những thông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ, đầu tư công sức.

 b. Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội: hợp tác trong nhóm và lớp (hay kỹ năng làm việc với người khác), đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình (self – talk), tự đánh giá để củng cố, tập trung, kỹ năng lựa chọn,

 c. Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là các kỹ năng hoạch định, chú ý có định hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, kỹ năng tự vận dụng phương pháp học tập thích hợp,

 

doc 24 trang Người đăng Hoài Minh Ngày đăng 15/08/2023 Lượt xem 288Lượt tải 1 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Các biện pháp để nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Vật lý ở trường THPT", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ói riêng. Bởi lẽ các bài giảng của môn Lý thường có nội dung mạch lạc, logic và chặt chẽ. Vì vậy học sinh cần tập trung nghe giảng để nắm được logic của bài củng như các bước chuyễn tiếp và cách giải quyết vấn đề ,bên cạnh đó học sinh nắm được bản chất sự vật, hiện tượng và ý nghĩa vật lý của đại lượng vật lý nào đó.Từ đó, HS ghi chép lại các dung đó vào vở và có thể ghi theo cách hiểu của mình. Nhờ đó mà ngay sau giờ học, HS có thể nắm được nội dung của bài và hơn nữa khi tiến hành học bài ở nhà thì vở ghi sẽ là tài liệu học tập rất tốt cho HS góp phần nâng cao hiệu quả học tập.
+ Kỹ năng đọc sách. Đặc biệt trong môn lý, kỷ năng đọc sách là một kỹ năng phổ biến của học sinh PT. SGK là tài liệu chính thống và cơ bản, tất cả nội dung đều được trình bày rõ ràng tỉ mỉ và có hệ thống. Vì vậy trước mỗi buổi lên lớp HS có thể đọc 1-2 lượt bài học trong SGK để biết được vấn đề sẽ được nghiên cứu trong giờ giảng tới từ đó các em có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức mới nâng cao chất lượng giờ học. 
+ Kỹ năng thực hành sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, lắp ráp thí nghiệm theo yêu cầu của GV hoặc tự nghĩ phương án thí nghiệm và lắp ráp, xữ lý kết quả thí nghiệm để tiến hành thí nghiệm rút ra các kiến thức của bài học theo yêu cầu của Gv. Khả năng tự đề xuất phương án thí nghiệm để đưa ra kiến thức liên quan đến bài học.
+ Kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, khái quát hóa: HS phải biết phân tích chia nhỏ vấn đề để giải quyết từ đó HS dể dàng tiếp thu. Điều này càng thấy rỏ khi học sinh xây dựng một định luật nào đó hay quá trình vận dụng làm bài tập. Bên cạnh đó HS còn phải biết kỹ năng tổng hợp, tức là từ những vấn đề nhỏ HS phải biết liên kết chúng lại để trở thành một chỉnh thể kiến thức thống nhất.
+ Kỹ năng tư duy logic, sử dụng ngôn ngữ chính xác, khã năng suy đoán tưởng tượng, 
 + Kỹ năng quan sát, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi.
II. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sịnh
 II.1. Khái niệm năng lực được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...;
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;
- Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống: ví dụ như đọc một văn bản cụ thể ... Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản;
- Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học;
- Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì?
 II. 2. Cách hình thành và phát triển năng lực học sinh 
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
+ Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
+ Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.
+ Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
+ Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO:
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
II.3. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép,tìm kiếm thông tin,...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”.
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp... Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
III. Các biện pháp để nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
 III.1. Quy trình tổ chức hoạt động tự học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học Vật lý
Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho học sinh theo từng đơn vị kiến thức chuẩn (tự học ở trên lớp có hướng dẫn của GV). Phù hợp với đối tượng học sinh
Giáo viên xác định được mục tiêu của bài học theo chuẩn kiến thức và kỷ năng, nội dung kiến thức phải ít nhất đạt chuẩn
Tùy theo đối tượng của học sinh (trình độ) để giáo viên đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ cho học sinh vừa sức
Nội dung câu hỏi phải đảm bảo cho học sinh tự khám phá trên cơ sở có định hướng của giáo viên 
Ví dụ: Đối với đối tượng học sinh trung bình giáo viên chỉ cần phát biểu định nghĩa định luật I,II,III và viết biểu thức định luật giai đoạn này chỉ là cấp độ hiểu
Bước 2: HS xây dựng kế hoạch học tập của người học. Người học là người tự chủ trong lựa chọn phương pháp học, sự tự chủ này thể hiện ở chỗ ngay từ khi bắt đầu học đã tiềm ẩn một hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học đảm bảo một sự thực hiện liên tục đầy tinh thần trách nhiệm. Hứng thú của người học phải dựa vào lòng tự tin. Người học cần có cảm giác sâu sắc là có khả năng thực hiện thành công việc học, phải tin vào khả năng và cách làm việc của bản thân. Tham vọng vượt qua chính mình cũng có thể trở thành một nguồn hứng thú có giá trị đối với người học. Người học phải có nhu cầu, động cơ học tập, hiểu được ý nghĩa quan trọng của vấn đề học tập.
	Để việc học tập có hiệu quả, người học phải hoạch định một tiến trình học tập, phải chọn đúng nội dung trọng tâm, sắp xếp thời gian hợp lý, dự định lựa chọn cách học hiệu quả, dự định lựa chọn tài liệu và các phương tiện thiết bị cho việc học.
	Đối với những học sinh phổ thông thì mục đích học tập, nhiệm vụ học tập đã được xác định rõ. Việc tạo ra sự tư tin, mục đích, động cơ, kích thích hứng thú là ở sự tự chủ của học sinh có sự hỗ trợ của nhà trường, thầy giáo. Nhưng sự hỗ trợ, hướng dẫn của thầy phải trên định hướng giúp cho học sinh phát triển năng lực theo bốn mức độ hiểu, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao.
Bước 3: Tiếp theo là giai đoạn người học thực hiện kế hoạch học tập
 Đây là giai đoạn quyết định sự thành công của việc học. Giai đoạn này bao gồm các công việc: làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập, xemina, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề. Ở giai đoạn này người học phải vận dụng những kỹ năng học tập có thể có được để thực hiện tố kế hoạch học tập Đó là những nhóm kỹ năng như:
	a. Kỹ năng về tri thức: ghi chép bài học, tóm tắt (hệ thống, tự liên hệ thông tin mới với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ, phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, tương tự, quy nạp – diễn dịch , và thay thế tức là tự hành động tìm những thông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ, đầu tư công sức. 
	b. Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội: hợp tác trong nhóm và lớp (hay kỹ năng làm việc với người khác), đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình (self – talk), tự đánh giá để củng cố, tập trung, kỹ năng lựa chọn, 
	c. Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là các kỹ năng hoạch định, chú ý có định hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, kỹ năng tự vận dụng phương pháp học tập thích hợp,
 Bước 4: Kiểm tra 
 - Trong tiến trình học tập, người học phải tự chủ động kiểm tra việc thực hiện kế hoạch học tập của mình. Việc kiểm tra sẽ thể hiện trách nhiệm của mình, không dựa dẫm vào người khác. Tự kiểm tra đánh giá sẽ giúp người học tự ý thức về khả năng của mình, củng cố vững chắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú. Việc tự kiểm tra đánh giá của hoc sinh cần có sự hỗ trợ của nhóm học, của giáo viên, của phương tiện thiết bị. Người học phải biết so sánh, đối chiếu các kết luận của bản thân với kết luận của giáo viên, của bạn, của tài liệu, biết phân tích tổng hợp, thể chế hoá, biết kiểm tra tính bền bỉ trong việc thực hiện kế hoạch.
 - Giáo viên yêu cầu cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh trình bày sau khi nhận nhiệm vụ từ giáo viên. Đánh giá, nhận xét rút ra kết luận của giáo viên.
Bước 5: Hoạt động điều chỉnh là một hoạt động hết sức quan trọng của tự học. Người học phải tự sửa sai, phải biết bổ sung thêm phương pháp học, bổ sung thêm kiến thức cần thiết, tìm kiếm thêm tài liệu, phải biết hệ thống hoá. Người học phải biết rút kinh nghiệm về cách học, về cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề của mình, về cách đánh giá, phải tìm hiểu thêm về chuẩn đánh giá	
	Các giai đoạn nêu trên không tách rời nhau mà đan xen nhau và liên hệ với nhau một cách biện chứng. Cần phải khẳng định rằng người học đây là “người biết”, tức là họ đã có một nền tảng tri thức nào đó. Quá trình tự học là một quá trình phủ định biện chứng liên tục, là quá trình giải quyết các mâu thuẫn tạo nên quá trình chuyển đổi bên trong người học, là quá trình tích luỹ tri thức để người học đi đến một trình độ cao hơn. Trên từng bài học, từng đơn vị học trình kiến thức hay từng phân môn, hay một khoá học đều chứa đựng vòng tròn tự học bắt đầu từ hoạch định tiến trình học tập có sự hỗ trợ của thầy sang giai đoạn thực hiện, vừa tự thực hiện vừa kiểm tra, tự điều chỉnh và lại hoạh định cho một kế hoạch mới. Quá trình này cứ diễn ra liên tục, liên tục, vòng tròn sau kế thừa vòng tròn trước và có một trình độ dường như cao hơn, quá trình phát triển này theo con đường xoắn ốc nhiều tầng, nói lên sự tự học, học suốt đời của mỗi con người.
* Một số ví dụ 
	 Ví dụ về tự học với sự hướng dẫn của GV:
 Trong bài “Định luật II Niwton” vật lý 10
GV: Xem sgk từ đó hãy nêu khái niệm về lực dựa vào khái niệm gia tốc? 
	Lực là đại lượng vectơ đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác mà kết quả là gây ra gia tốc cho vật hoặc làm cho vật bị biến dạng 
GV: Xem sgk từ đó hay cho biết Vectơ lực có những đặc điểm gì?
Như ta đã biết: trong toán học muốn tìm tổng hai vectơ ta dùng quy tắc hình bình hành. Đó là tính chất cơ bản của vectơ. Mà lực là đại lượng vectơ, liệu ta có thể áp dụng quy tắc này cho hai lực được không? 
	Ví dụ về tự học thông qua tài liệu:
 HS tự tìm hiểu qua sách vấn đề sau:
Ví dụ bài: “Thấu kính mõng” vật lí 11
 Sau khi ở trên lớp GV đã hướng dẫn HS cách vẽ ảnh của 1 vật qua TKHT, TKPK.
Đó là vẽ 2 trong 4 tia sau (HS đã học ở lớp)
GV yêu cầu HS về nhà vẽ các trường hợp còn lại (vật ở trong OF, tại F)
III.2 .Vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong 
dạy học môn vật lý
Để áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, trước hết giáo viên có thể chủ động xác định năng lực chung và chuyên biệt môn Vật lý cấp THPT
 2.1 . Cách xây dựng các năng lực chuyên biệt bằng cách cụ thể hóa các năng lực chung
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
Nhóm năng lực công cụ: năng lực sử dụng CNTT, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán
 2.2 . Cách xây dựng các năng lực chuyên biệt dựa trên đặc thù môn học 
- Chia nhỏ các năng lực: năng lực giải quyết, năng lực hợp tác vấn đề, năng lực thực nghiệm, năng lực quan sát,năng lực tự học,năng lực sáng tạo thành các năng lực thành phần
- Chỉ ra các thao tác liên quan đến từng năng lực thành phần, mà các thao tác này có thể nhận biết được và đưa ra chỉ báo rõ ràng về mức độ chất lượng của từng thao tác.
Nhóm NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức Vật lý (ký hiệu: K)
 - K1: Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng số vật lí
 - K2: Trình bày được mối quan hệ giữa các kiến thức vật lí 
 - K3: Sử dụng được kiến thức vật lí để thực hiện các nhiệm vụ học tập
 - K4: Vận  dụng  (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp  ) kiến thức vật lí vào các tình huống  thực tiễn
Nhóm NLTP về phương pháp (tập trung vào năng lực thực nghiệm và năng lực mô hình hóa (P1->P9)
 - P1: Đặt ra những câu hỏi về một sự kiện vật lí
P2: mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ vật lí và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tượng đó
- P3: Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lí thông tin từ các nguồn khác nhau để giải quyết vấn đề trong học tập vật lí
- P4: Vận dụng sự tương tự và các mô hình  để xây dựng kiến thức vật lí
 vật lí
- P6:  chỉ ra được điều kiện lí tưởng của hiện tượng vật lí
- P7: đề xuất được giả thuyết; suy ra các hệ quả có thể kiểm tra được
- P8: xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét. 
    Để đánh giá thành phần này có thể thông qua quá trình biện luận kết quả thí nghiệm.
Nhóm NLTP về trao đổi thông tin (X1->X8)
- X1: trao đổi kiến thức và ứng dụng vật lí bằng ngôn ngữ vật lí và các cách diễn tả đặc thù của vật lí 
- X2: phân biệt được những mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ vật lí (chuyên ngành) 
- X3: lựa chọn, đánh giá được các nguồn thông tin khác nhau
 - X4: mô tả được cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kĩ thuật, công nghệ
- X5: Ghi lại được các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm ).
- X6: trình bày các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm ) một cách phù hợp
- X7: thảo luận được kết quả công việc của mình và những vấn đề liên quan dưới góc nhìn vật lí 
- X8: tham gia hoạt động nhóm trong học tập vật lí
   Nhóm năng lực thành phần liên quan đến cá thể (từ C1->C6)
- C1: Xác định được trình độ hiện có về kiến thức, kĩ năng, thái độ của cá nhân trong học tập vật lí
    - C2: Lập kế hoạch và thực hiện được kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch học tập vật lí nhằm nâng cao tŕnh độ bản thân.
- C4: so sánh và đánh giá được - dưới khía cạnh vật lí- các giải pháp kĩ thuật khác nhau về mặt kinh tế, xã hội và môi trường 
- C3: chỉ ra được vai trò (cơ hội) và hạn chế của các quan điểm vật lí đối trong các trường hợp cụ thể trong môn Vật lí và ngoài môn Vật lí 
- C5: sử dụng được kiến thức vật lí để đánh giá và cảnh báo mức độ an toàn của thí nghiệm, của các vấn đề trong cuộc sống và của các công nghệ hiện đại 
C6: nhận ra được ảnh hưởng vật lí lên các mối quan hệ xã hội và lịch sử.
  Các thành phần năng lực C3, C5 và C6 ít được thể hiện và được tổ chức đánh giá ở HS.
 Ví dụ: Sau khi học sinh hoàn thành giai đoạn tìm hiểu định luật I, II, III. Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh vận dụng định luật giải thích các hiện tượng trong thực tế như: Xe dừng lại người ngã về phía trước.Tiếp theo tùy theo đối tượng học sinh giáo viên cho học sinh làm bài vận dụng công thức định luật II hoặc phối hợp các kiến thức ở mức vận dụng cao đối với học sinh khá giỏi. 
III.3. Giáo án mẫu: các biện pháp để nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong bài “Nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh. Nguyên lí II nhiệt động lực học” (Vật lí 10 NC) 
Mục tiêu
Kiến thức
Biết được nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh; hiểu về nguồn nóng, nguồn lạnh, tác nhân cùng bộ phận phát động, sinh công hay nhận công ở một số máy thường gặp.
Hiểu được nguyên lí II NĐLH và chiều diễn biến của các quá trình trong tự nhiên, bổ sung cho nguyên lí I NĐLH như thế nào. Phát biểu được nguyên lí II NĐLH;
Kĩ năng
Nhận biết và phân biệt được nguồn nóng, nguồn lạnh, tác nhân cùng bộ phận phát động, sinh công hay nhận công ở một số máy hay gặp trong thực tế.
GDMT: biết phân tích các tác động gây ô nhiễm môi trường từ các động cơ nhiệt và máy làm lạnh, các biện pháp khắc phục (tiếng ồn, hiệu ứng nhà kính, vai trò của cây xanh).
Giáo dục thế giới quan khoa học biện chứng: Không thể chế tạo được động cơ vĩnh cửu loại II.
Vận dụng các công thức làm được bài tập, giải thích hiện tượng thực tế.
Thái độ 
 - Ý thức trồng cây xanh trong vấn đề bảo vệ môi trường.
 - Có thái độ tích cực và hành động thiết thực trong vấn đề bảo vệ môi trường.
 - Tập trung nghiên cứu bài học, xây dựng bài, tin tưởng vào khoa học.
 Một số năng lực thành phần có thể phát triển
Mô tả cụ thể các năng lực thành phần 
trong chuyên đề
Năng lực thành phần
Nhóm năng lực
-Nêu được: Động cơ nhiệt là gì.
- Nhận biết được cấu tạo chung của một Động

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_cac_bien_phap_de_nang_cao_ki_nang_tu_h.doc