Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng thực đơn cho trẻ trong trường mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng thực đơn cho trẻ trong trường mầm non

Biện pháp 1: Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn.

 Để cho trẻ ăn ngon miệng một cách có hiệu quả thì điều đầu tiên về phía tổ nuôi đó là phải xây dựng được thực đơn và khẩu phần ăn hợp lý cho trẻ cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết đáp ứng được với nhu cầu của trẻ. Nhận thức được tầm quan trọng chăm sóc dinh dưỡng của trẻ, cùng với tinh thần trách nhiệm cao ngay từ đầu năm học tôi thường xuyên theo dõi giờ ăn của trẻ để kịp thời điều chỉnh, chế biến thức ăn cho các cháu được ngon hơn và đảm bảo dinh dưỡng. Tôi đã tham mưu, phối hợp cùng Ban giám hiệu xây dựng thực đơn cho trẻ hợp lý thay đổi theo ngày, phù hợp theo mùa, phải cân đối về dinh dưỡng nghĩa là phải đủ chất, đủ lượng, cân đối giữa các chất và 4 nhóm thực phẩm:

 Nhóm cung cấp chất đạm như:Thịt, cá, tôm, cua, các loại đỗ hạt, đậu tương giúp xây dựng cơ bắp kháng thể đặc biệt là sự phát triển của các tế bào.

 Nhóm cung cấp chất béo (lipít) như: Dầu, mỡ, lạc, vừng, nhóm vừa năng lượng cao, vừa làm cảm giác ngon miệng giúp trẻ hấp thụ sử dụng tốt các vitamin trong chất béo như: vitamin A,D,E,K.

 Nhóm chất bột đường(gluxit) như: Bột, cháo, cơm, mì, bún nhóm cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể và cơ bắp.

 Nhóm cung cấp vitamin và khoáng chất như: Rau quả đặc biệt các loại rau có màu xanh thẩm như rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, rau mồng tơi Các loại quả có màu đỏ hoặc vàng như chuối, đu đủ, xoài, cam, cà chua, gấc.nhóm cung cấp các loại vi dưởng chấtđóng vai trò là chất xúc tácgiữa các thành phần hoá học trong cơ thể.

 Tuy nhiên việc lên thực đơn như thế nào đề phù hợp với đa số trẻ và dễ thực hiện nhất? Tôi đã tiến hành theo các bước sau:

 Lên thực đơn theo mùa: thực đơn được lên theo mùa sẽ đảm bảo được nguồn thực phẩm cung cấp cho các bữa ăn đồng thời giảm được chi phí mua thực phẩm và tạo thuận lợi cho quá trình chế biến, kết hợp với các loại rau, củ quả khác.

 

docx 21 trang Người đăng thuquynh91 Ngày đăng 12/10/2021 Lượt xem 22Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng thực đơn cho trẻ trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 từ động vật rất nhiều nhưng giá thành lại đắt, ngược lại đạm có nguồn gốc từ thực vật lại rất rẻ. Tiền ăn của các cháu đóng hàng ngày thì hạn chế, vì vậy phải biết kết hợp giữa đạm cung cấp từ thịt, cá, trứng với đạm cung cấp từ đậu, lạc, vừng. Qua đó kết hợp với các loại canh rau có độ đạm tương đối cao như rau ngót, rau muống, giá đỗ . Muốn đảm bảo được lượng Lipid trong mỗi bữa ăn của trẻ có thể chế biến thành các món rán, xào. Để đảm bảo được lượng Glucid cho trẻ và cân đối giữa hai bữa chính và bữa phụ trong ngày, bữa chính sáng trẻ ăn cơm, bữa phụ chiều có thể chế biến một số món ăn từ gạo nếp, mỳ, chè các loại.
*. Thực đơn đa dạng phong phú, dùng nhiều loại thực phẩm Tất cả các chất dinh dưỡng đều hết sức cần thiết cho cơ thể trẻ ở lứa tuổi mầm non vì thế trong mỗi bữa ăn hàng ngày của trẻ ta phải kết hợp nhiều loại thực phẩm. Mỗi loại thực phẩm lại cung cấp một số chất nhất định, cách tốt nhất để trẻ ăn đủ chất là phải đan xen thêm nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn, có như vậy thực đơn mới phong phú đa dạng. Ví dụ: Thực phẩm từ đậu phụ có thể chế biến thành đậu rán sốt cà chua, đậu nhồi thịt, trứng hấp thịt đậu phụ  Thực phầm từ cua đồng ngoài nấu canh riêu cua có thể kết hợp rau mùng tơi, rau đay, mướp, rau dền, rau rút, rau muống, khoai sọ  chất nọ bổ sung cho chất kia làm cho giá trị dinh dưỡng của ba chất tăng lên rất nhiều để tăng thêm phần hấp dẫn của món ăn trên cùng một loại thực phẩm ta có thể kết hợp hợp với một số gia vị khác tạo ra nhiều món ăn khác nhau, nên tránh các loại gia vị cay, nóng. 
*.Thực đơn theo mùa Ở lứa tuổi mầm non đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng cũng vô cùng quan trọng, vì thế khi chế biến các món ăn cũng phải đặc biệt quan tâm về khẩu vị và trạng thái của thức ăn . Khi xây dựng thực đơn phải chú ý đến các món ăn của trẻ nhất là khâu chế biến như băm nhỏ, thái nhỏ, nấu phải nhừ, mềm kể cả rau. Các món ăn mặn ta có thể chế biến thêm nước sốt kèm theo để trẻ dễ ăn hơn . Ăn uống còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu theo từng mùa. Như mùa hè nóng bức nhu cầu về các món có nhều nước tăng lên và những món canh chua, canh cua, trẻ rất thích ăn. Còn về mùa đông thời tiết lạnh ta có thể sử dụng các món sào, rán thuộc các món ăn hầm nhừ ăn nhiều hơn . Còn về thực phẩm các loại rau quả ta nên dùng mùa nào thức đó không cần thiết phải sử dụng thực phẩm trái mùa. 
*. Đảm bảo chế độ tài chính Với mức tiền thu/tháng/trẻ, để xây dựng được thực đơn đầy đủ năng lượng và dinh dưỡng lại đảm bảo lượng calo và đạt tỷ lệ các chất đòi hỏi người kế toán phải tính toán theo khả năng tài chính hiện có. Để đảm bảo bữa ăn được phong phú đa dạng thực đơn ngày nào cũng phải có thịt, cá, trứng, canh rau, hoa quả ta phải biết phối hợp thực phẩm đắt với thực phẩm rẻ; mùa nào- thức nấy, mua thực phẩm chính vụ sẽ rẻ hơn. Nguyên tắc này rất quan trọng mà số tiền cho lại có hạn nhờ có nó mà trong mỗi bữa ăn hàng ngày của trẻ, trẻ vẫn được ăn đầy đủ các loại thực phẩm rẻ đến các loại thực phẩm đắt và trong bữa ăn vẫn có cả hoa quả đảm bảo các chất dinh dưỡng. Hy vọng một số kinh nghiệm này sẽ giúp các đồng nghiệp đem lại hiệu quả khi giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non. Mong muốn nhận được những chia sẻ, trao đổi của các đồng nghiệp. 
 2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
 2.1. Thực trạng:
 a.Thuận lợi:
- Được sự quan tâm giúp đỡ của phòng giáo dục,sở giáo dục đào tạo tỉnh Đak Lak,UBND thị xã Buôn Hồ đầu tư cơ sở vật chất khang trang.
- Nhà trường quan tâm đầu tư đầy đủ đồ dùng trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng theo hướng hiện đại như máy xay công nghiệp các loại, tủ phục vụ công tác bán trú, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm.
-  Bản thân công tác tại trường trên 20 năm, có nhiều kinh nghiệm trong công tác bán trú
- Nhà trường ký hợp đồng với các nhà cung cấp thực phẩm sạch có nguồn thực phẩm đảm bảo an toàn được các cơ quan kiểm định, giá cả tương đối ổn định
- Đồng thời được sự quan tâm đặc biệt của giáo viên chủ nhiệm các lớp hỗ trợ là niềm động viên tinh thần đã giúp tôi khắc phục những khó khăn hoàn thành tốt công việc.
b. Khó khăn: 
- Một số học sinh mới đi học nhu cầu ăn uống và dinh dưỡng của trẻ khác nhau.
- Một số trẻ nhà xa đi học không đúng giờ quy định của nhà trường.
- Một số phụ huynh gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên việc nộp tiền ăn cho trẻ còn chậm trễ làm ảnh hưởng đến công tác thu chi bán trú của nhà trường..
2.2..Đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
 Lựa chọn thực phẩm:  Để lựa chọn được thực phẩm hợp lý, trước hết tôi lên danh sách các loại thực phẩm thường có tại địa phương vào thời điểm xây dựng thực đơn, phân loại từng nhóm thực phẩm, tôi lựa chọn những thực phẩm dễ tiêu hóa, phù hợp với đặc điểm sinh lý của trẻ mầm non. Sau đó tôi khảo sát, tìm hiểu nhu cầu hứng thú của trẻ đối với từng loại thực phẩm, cuối cùng là tôi chọn thực phẩm được nhiều trẻ yêu thích nhất. Tuy nhiên, nguồn thực phẩm cung cấp phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực phẩm phải đảm bảo tươi ngon, thực hiện nghiêm ngặt việc giao nhận thực phẩm với các bên bán thực phẩm.
 Lên thực đơn theo mùa: thực đơn được lên theo mùa sẽ đảm bảo được nguồn thực phẩm cung cấp cho các bữa ăn đồng thời giảm được chi phí mua thực phẩm và tạo thuận lợi cho quá trình chế biến, kết hợp với các loại rau, củ quả khác.
 Là cán bộ quản lý phụ trách công tác bán trú bản thân tôi nhận thấy việc xây dựng thực đơn hàng ngày cho trẻ rất quan trọng trong mỗi bữa ăn sao cho hợp lý về tài chính,các chất dinh dưỡng,khẩu phần ăn của trẻ . Nhằm nâng cao kiến thức dinh dưỡng tốt nhất áp dụng ở trường với mong muốn các cháu khỏe mạnh có thể lực và trí tuệ tốt nhất, đó là mục đích hướng tới của sáng kiến. Để trẻ thích đến trường, yêu lớp, thích ăn những món ăn do các cô tổ nuôi chế biến đầy đủ dinh dưỡng và hợp lý, đáp lại niềm tin và giữ vững là địa chỉ tin cậy của nhiều bậc phụ huynh học sinh. 
 Chính vì vậy các nhà khoa học nghiên cứu và cho biết trẻ em ở lứa tuổi mầm non nhu cầu về dinh dưỡng và nhu cầu về hoạt động của trẻ là rất cao. Chất dinh dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của cơ thể. 
3.Nội dung và hình thức của giải pháp:
 a.Mục tiêu của giải pháp:
 Trước tình hình thực trạng trong cơ sơ giáo dục mầm non,nhiệm vụ xây dựng thực đơn để nâng cao chất dinh dưỡng cho trẻ trong mỗi ngày.  Nhu cầu về dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi phải đảm bảo đầy đủ các chất và cân đối phối hợp, hợp lý đủ 4 nhóm thực phẩm trong mỗi bữa trong một ngày. Nhu cầu ngủ, nhu cầu hoạt động của trẻ cũng rất cao, trẻ thường hiếu động thích chạy nhảy.  Nếu như trẻ được người lớn chăm sóc nuôi dưỡng tốt ngay từ đầu, ngay từ khi rất nhỏ thì khi trẻ mới được vào trường mầm non thì trẻ luôn được khoẻ mạnh thông minh, hồn nhiên, ít ốm đau, sẵn sàng tham gia vào mọi hoạt động một cách chủ động, sáng tạo.
Theo Bộ y tế qui định nhu cầu năng lượng cần thiết từng độ tuổi trong một ngày:
Độ tuổi
Nhu cầu năng lượng
Từ 0 – 6 tháng
600 – 800 Kcal
Từ 6 – 12 tháng
800 – 900 Kcal
Từ 12 – 18 tháng
900 – 1100 Kcal
Từ 18 – 24 tháng
1100 – 1200 Kcal
Từ 24 – 36 tháng
1200 – 1300 Kcal
Từ 36 – 72 tháng
1400 – 1600 Kcal
  b.Nội dung và hình thức của biện pháp:
 *. Các biện Pháp:
 Xuất phát từ cơ sở lý luận và nhữngkhó khăn thực tế tôi đã mạnh dạn đưa ra những biện pháp cụ thể như sau:
- Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn
- giám sát, phối kết hợp
- Lựa chọn thực phẩm sạch an toàn.
- Kỹ thuật chế biến thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Cho trẻ vui chơi, vận động hợp lý.
- Thực hành trồng rau
- Tạo cho trẻ tâm trạng thoải mái khi ăn.
* Biện pháp 1: Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn.
  Để cho trẻ ăn ngon miệng một cách có hiệu quả thì điều đầu tiên về phía tổ nuôi đó là phải xây dựng được thực đơn và khẩu phần ăn hợp lý cho trẻ cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết đáp ứng được với nhu cầu của trẻ. Nhận thức được tầm quan trọng chăm sóc dinh dưỡng của trẻ, cùng với tinh thần trách nhiệm cao ngay từ đầu năm học tôi thường xuyên theo dõi giờ ăn của trẻ để kịp thời điều chỉnh, chế biến thức ăn cho các cháu được ngon hơn và đảm bảo dinh dưỡng. Tôi đã tham mưu, phối hợp cùng Ban giám hiệu xây dựng thực đơn cho trẻ hợp lý thay đổi theo ngày, phù hợp theo mùa, phải cân đối về dinh dưỡng nghĩa là phải đủ chất, đủ lượng, cân đối giữa các chất và 4 nhóm thực phẩm: 
 Nhóm cung cấp chất đạm như:Thịt, cá, tôm, cua, các loại đỗ hạt, đậu tương giúp xây dựng cơ bắp kháng thể đặc biệt là sự phát triển của các tế bào.
 Nhóm cung cấp chất béo (lipít) như: Dầu, mỡ, lạc, vừng, nhóm vừa năng lượng cao, vừa làm cảm giác ngon miệng giúp trẻ hấp thụ sử dụng tốt các vitamin trong chất béo như: vitamin A,D,E,K.
 Nhóm chất bột đường(gluxit) như: Bột, cháo, cơm, mì, búnnhóm cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể và cơ bắp.
 Nhóm cung cấp vitamin và khoáng chất như: Rau quả đặc biệt các loại rau có màu xanh thẩm như rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, rau mồng tơiCác loại quả có màu đỏ hoặc vàng như chuối, đu đủ, xoài, cam, cà chua, gấc..nhóm cung cấp các loại vi dưởng chấtđóng vai trò là chất xúc tácgiữa các thành phần hoá học trong cơ thể.
 Tuy nhiên việc lên thực đơn như thế nào đề phù hợp với đa số trẻ và dễ thực hiện nhất? Tôi đã tiến hành theo các bước sau:
  Lên thực đơn theo mùa: thực đơn được lên theo mùa sẽ đảm bảo được nguồn thực phẩm cung cấp cho các bữa ăn đồng thời giảm được chi phí mua thực phẩm và tạo thuận lợi cho quá trình chế biến, kết hợp với các loại rau, củ quả khác.
Ví dụ:
THỨ TỰ
BỮA SÁNG
BỮA TRƯA
BỮA PHỤ CHIỀU
Thứ 2
Sữa học đường
Cơm:Trứng vịt kho thịt heo
Canh rau cải nấu tôm tươi
Cháo gà đậu xanh
Thứ 3
Sữa học đường
Cá bớp sốt cà chua
Canh chua
Bún khô nấu thịt heo
Thứ 4
Sữa học đường
Thịt heo kho đậu khuôn
Canh bầu nấu tôm
Yến mạch nấu xương heo(Hoặc thịt thịt bò rau,củ,quả )
Thứ 5
Sữa học đường
Thịt bò kho cà rốt + khoai tây
Canh rau ngót nấu tôm
Bún riêu thịt heo
Thứ 6
Sữa học đường
Cá thu sốt cà chua
Canh chua
Bánh canh thịt heo
 * Biện pháp 2: giám sát, phối kết hợp
- Để chế biến được những món ăn ngon phù hợp với trẻ bản thân tôi phải 
+ Thường xuyên lên lớp kết hợp với giáo viên cho trẻ ăn và tìm hiểu xem trẻ ăn có ngon không.
+ Thường xuyên thay đổi và cải tiến các món ăn tạo màu sắc bắt mắt để trẻ hứng thú và ăn hết xuất.
+ Tư vấn với ban giám hiệu nhà trường những món ăn bằng những thực phẩm đúng mùa phù hợp với trẻ.
+  Để công việc chăm sóc nuôi dưỡng có kết quả tôi đã kết hợp với mọi người để cùng tham gia như: 
 - Kết hợp với y tế trường thường xuyên kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho các cháu để phát hiện cháu không tăng cân hoặc tăng cân đến mức béo phì
+ Đối với các cháu không tăng cân thì ngồi ăn riêng 1 bàn cô động viên, khuyến khích cháu ăn hết suất
+ Đối với cháu béo phì thì giảm chất bột, đường như cơm, tăng cường thêm một lượng sữa trước bữa ăn, ăn nhiều hoa quả
* Biện pháp 3: lựa chọn thực phẩm sạch an toàn.
Trong thực tế hiện nay trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều thông tin về nguồn thực phẩm không an toàn như dịch cúm gia cầm, nguồn rau không đảm bảo vệ sinh do tưới nước ở các sông bị ô nhiễm, nhiều loại rau phun thuốc kích thích và thuốc trừ sâu. Các nhà chăn nuôi thì vì lợi ích của riêng mình đã dùng cám tăng trọng để được hưởng lợi nhuận cao, nhưng họ lại không nghĩ đến sự nguy hại tới sức khỏe của người tiêu dùng. Chính vì vậy công việc lựa chọn thực phẩm sạch an toàn là một điều rất cần thiết.
Khi lựa chọn các thực phẩm sạch không có vi khuẩn gây bệnh, thực phẩm phải tươi ngon không ôi thiu dập nát. Trong việc thay đổi các món ăn theo từng bữa cho đủ chất lượng và số lượng, tôi đã lưu ý các thực phẩm được thay thế phải tương đương về chất lượng, để đảm bảo cho khẩu phần ăn của trẻ không bị thay đổi về thành phần các chất dinh dưỡng. Giảm gluxit tinh chế đến mức tối thiểu vì thừa gluxit dẫn đến béo phì, béo phì là nguyên nhân dẫn đến mắc các bệnh về tim mạch, nhưng vẫn phải cung cấp đầy đủ gluxit theo thức ăn để làm giảm sự phân hủy của protit đến mức tối thiểu.
Khi chọn thực phẩm phải tươi ngon không có thuốc trừ sâu hay chất kích thích, chất xúc tác. Thức ăn chế biến sẵn phải chọn thương hiệu có uy tín về chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cụ thể bằng việc làm hàng ngày, tôi cùng chị em thực hiện nghiêm ngặt việc giao nhận thực phẩm giữa bên cung cấp với người nhận thực phẩm và người cung ứng thực phẩm phải ký vào sổ giao nhận thực phẩm. Tôi đã tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường trước khi hợp đồng thực phẩm bên cung ứng cũng phải chọn những cửa hàng có uy tín về nguồn thực phẩm và thực hiện nghiêm túc việc ký kết hợp đồng giữa 2 bên, nếu có bị ngộ độc thì cửa hàng cung cấp thực phẩm phải chịu trách nhiệm.
* Biện pháp 4: kỹ thuật chế biến thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
 Như chúng ta đã biết kỹ thuật chế biến thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính là khâu quyết định một bữa ăn ngon đạt được độ cảm quan cao nhằm giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất và không kén thức ăn việc đầu tiên tôi phải nghĩ ngay đến kỹ thuật chế biến thức ăn, thì thức ăn phải có mùi vị thơm ngon, hấp dẫn, trẻ nhận thức rõ được điều này tôi đã bàn bạc với chị em  trong tổ nuôi thường xuyên thay đổi cách chế biến các món ăn trong quá trình nấu nướng phải biết cách phối hợp với từng món ăn để tạo nên mùi vị đặc trưng của từng món ăn.
 VD: Khi chế biến tôi thường phối hợp các loại rau quả có màu sắc đẹp để trẻ dễ bị thu hút, lôi cuốn tạo cảm giác hứng thú thích ăn, tẩm ướp thức ăn trước 10 – 15 phút phi hành thơm sau đó đem xào nấu.
 Để tăng cường bổ sung chất sắt cho trẻ, đề phòng chống thiếu máu cụ thể. Khi chế biến thức ăn cho trẻ tôi giảm bớt sử dụng muối nê tăng cường lượng nước mắm rất giàu chất dinh dưỡng (Vì nước mắm có bổ sung chất sắt) phối hợp thêm một số loại rau quả có chứa nhiều Vitamin C để có tác dụng tốt cho việc hấp thụ chất sắt,  phòng chống được các bệnh tật khi chuyển mùa.
 VD: Như rau đay hàm lượng vitamin C là 77, rau mùng tơi 72, bắp cải 30, cà chua 40, bí ngô 40...
 Tăng lượng thức ăn giàu can xi giúp cho sự phát triển chiều cao của trẻ. Khi chế biến thức ăn cho trẻ phải chú ý cắt thái nhỏ đối với các loại rau củ quả, đối với thịt thì phải xay nhỏ để trẻ ăn được, khi chế biến phải nấu mềm, nhừ để trẻ dễ tiêu hóa.
 Bếp được chế biến theo quy tắc bếp một chiều không để dụng cụ sống chín lẫn lộn. Rau quả được rửa sạch dưới vòi nước, không nên cắt nhỏ cho vào nước sẽ mất hết chất, thịt được trần qua nước sôi rửa sạch sau đó mới đem sơ chế, chế biến để giảm bớt các độc tố.
 Trong khi chế biến các cô nuôi đeo tạp dề, khẩu trang. Bếp được chế biến theo quy tắc bếp một chiều trong khi chế biến luôn nhớ khẩu hiệu “Làm đâu sạch đấy, đứng dậy sạch ngay”.
 Ngoài ra tôi cũng thường xuyên có mặt ở bếp để kiểm tra thực phẩm vì thực phẩm là khâu quan trọng có tính quyết định đến chất lượng và sự ngon miệng của bữa ăn. Hàm lượng vitamin trong rau xanh và trái cây càng tươi, càng tốt. Mặc dù có hợp đồng thực phẩm nhưng người trực tiếp nhận thực phẩm tại trường phải có trách nhiệm và có kinh nghiệm để có thể nhận biết được các thực phẩm tươi sạch hoặc không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Biện pháp 5: Cho trẻ vui chơi, vận động hợp lý 
 Nếu như cả ngày bé chỉ ngồi một chỗ và liên tục nạp các chất dinh dưỡng vào cơ thể, nếu trẻ hấp thụ và ăn uống tốt thì nhanh chóng trở nên béo phì, còn nếu những bé không hấp thụ được hoặc hệ tiêu hóa không tốt thì sẽ chẳng bao giờ bé cảm thấy hào hứng dù thức ăn có ngon đến mấy. Chính vì vậy mà cần có thời gian cho trẻ hoạt động hợp lý. Trẻ vui chơi chạy nhảy nhiều còn giúp bé thêm năng động, tự tin, không mè nheo , nếu được chơi với các bạn cùng trang lứa thì cơ hội học hỏi các kỹ năng, phát triển giao tiếp, ngôn ngữ của trẻ sẽ được tăng lên đáng kể. Nên tạo điều kiện cho trẻ vui chơi ở ngoài trời thật nhiều để bé có được sức đề kháng tốt hơn. Tại trường mầm non, giáo viên các lớptăng cường cho trẻđược hoạtđộng ngoài trờiđể trẻđược hấp thụánh nắng. Ngoài ra khi tổ chức hoạt động ngoài trời giáo viên tổ chức cho trẻ các trò chơi vậnđộng, trẻđược tự do chạy nhảy, vui chơi với cácđồ chơi ngoài trời. Chính những điều này giúp trẻ chuyển hoá năng lượng nhanh hơn, trẻ sẽ nhanh đói và sẽ kích thích ăn khi bước vào bữa ăn.
 * Biện pháp 6: Thực hành trồng rau:
 Thực phẩm sạch, tươi ngon và giàu dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên bữa ăn ngon cho trẻ. Hiểu được điều đó, tôi đã tham mưu cùng nhà trường tạo ra nguồn thực phẩm tại chỗ để làm nguyên liệu chế biến các món ăn cho trẻ.
 Tuy nhiên, do điều kiện khuôn viên của trường không không có đất trống rộng nên nguồn thực phẩm còn hạn chế, tôi chỉ chú trọng vào việc trồng các loại cây rau theo mùa và một số loại gia vị thường dùng trong các món ăn. Việc trồng các loại rau này cũng không phải đơn giản, tôi tận dụng các bồn hoa trong sân trường, tận dụng các khoảng đất trống để tạo thành vườn rau cho trẻ.
 Nhằm góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng bữa ăn hằng ngày của các bé từ nguồn rau sạch để đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm, giáo viên tại trường đã lên kế hoạch “xây dựng vườn rau của bé”. Bên cạnh đó, 
  Nhà trường trồng rau, củ quả cho trẻ ăn nên tuyệt đối không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu. Từ đó phụ huynh rất yên tâm khi gửi trẻ ở trường. Hơn nữa, tận dụng vườn rau của nhà trường giá rẻ hơn rất nhiều so với giá của thị trường, tiết kiệm được khoản chi phí còn lại, nhà trường dành để tổ chức bữa ăn ngon cho trẻ và tổ chức cho trẻ ăn tiệc buffet với nhiều món ăn đa dạng, kích thích trẻ ăn ngon.
 Không chỉ hỗ trợ xây dựng vườn rau cung ứng cho bữa ăn an toàn của trẻ mà còn giúp giáo viên có nguồn tài liệu cung cấp thêm cho cháu hiểu rõ hơn về tầm quan trọng, giá trị dinh dưỡng của những loại rau, củ nhu cầu dinh dưỡng để phát triển cơ thể một cách toàn diện và bảo vệ sức khỏe trẻ. Vườn rau tại trường giúp cho các bé tiếp xúc với hoạt động trồng trọt, để bé nhận thức được lợi ích của việc trồng rau sạch đối với môi trường sống xung quanh. Đồng thời, hướng dẫn cho cô giáo ở trường và trẻ cách gieo trồng nhiều loại rau, củ thông qua việc tổ chức sự kiện những tiết học trên đã tạo ra sân chơi cho trẻ lĩnh hội kiến thức dinh dưỡng, tìm hiểu về đất trồng rau và được thực hành với việc gieo trồng, chăm sóc cây; cho trẻ làm quen các món ăn và thích ăn uống tại trường; đặc biệt kích thích cho trẻ dễ dàng tham gia các hoạt động khác, thích khám phá, yêu thiên nhiên. Khi trẻ cùng cô trồng rau đó chính là hoạt động lao động góp phần hình thành nhân cách cho trẻ. Trẻ sẽ cảm nhận được sự tuyệt vời của thành quả lao động, trẻ được ăn những món canh được chế biến từ những cây rau mà hàng ngày trẻ được chăm sóc. Điều này sẽ giúp trẻ tự giác ăn và cảm thấy ăn ngon miệng hơn.
 Sự phát triển của đô thị hóa làm cho những mảng xanh ngày càng bị thu hẹp, con người cảm thấy mệt. Những thông tin về vấn đề thực phẩm bẩn nhiễm hóa chất, phun thuốc tăng trưởng đang tràn lan trên thị trường làm cho nhiều người lo ngại mỗi khi sử dụng. Tuy nhiên, các loại rau xanh lại là những nguyên liệu cung cấp rất nhiều dinh dưỡng cho cơ thể nên không thể thiếu trong những bữa ăn hằng ngày của trẻ. Việc tự trồng rau tại các nhà trường để sử dụng sẽ giúp kiểm soát được mức độ an toàn của thực phẩm và sẽ an tâm hơn mỗi khi sử dụng.
 Rau được trồng tại vườn trường là do cô và trẻ tự tay chăm sóc nên sẽ không có thuốc trừ sâu hay thuốc bảo vệ thực vật. Và cây ít bị ảnh hưởng bởi những vi sinh vật có hại, cây sẽ được hấp thụ dinh dưỡng trực tiếp và hoàn toàn sạch.
 Hơn nữa, nếu đi mua rau ngoài chợ sẽ không thể đảm bảo rằng rau đó tươi ngon, nhưng việc cô và trẻ tự tay hái rau từ vườn trường và đưa vào bữa ăn của trẻ thì luôn đảm bảo vấn đề là rau luôn tươi ngon, đảm bảo dinh dưỡng.
 Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, mỗi ngày trẻ được tổ chức tham gia hoạt động chăm sóc, thu hoạch rau mang vào bếp. Những luống rau xanh mướt được các cô phân chia theo từng dãy đất, đặt tên để các bé có thể phân biệt được từng loại rau khác nhau như: rau cải, rau mồng tơi và còn nhiều loại rau k

Tài liệu đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_xay_dung_thuc_don_c.docx