Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong trường mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong trường mầm non

Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ

- Với mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tư¬ợng cho trẻ làm quen, giáo viên tìm những cách vào bài khác nhau để gây sự chú ý, tò mò của trẻ, có thể dùng câu đố, bài hát để trẻ nhận biết đối t¬ượng bằng tranh ảnh và đồ vật, vật thật và mô hình.

- Với mỗi đối tư¬ợng trẻ đ¬ược làm quen, trẻ đ¬ược quan sát thật kỹ, trẻ biết đ¬ưa ra ý kiến nhận xét của mình, cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô, cứ mỗi lần làm quen nh¬ư vậy giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục vào bài. Trẻ không những hiểu về vật đó mà còn có cách ứng xử, hành động với chúng.

- Sau khi trẻ đư¬ợc làm quen 3 – 4 đối t¬ượng (trong 1bài) giáo viên cho trẻ so sánh 2 đối tượng một ., để trẻ có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ phân loại trong các trò chơi.

- Tổ chức các trò chơi trong mỗi tiết dạy, giáo viên thường tổ chức đan xen trò chơi động với trò chơi tĩnh, làm cho không khí tiết dạy vui t¬ươi hào hứng và hiệu quả.

- Trong các tiết học khác giáo viên cũng lồng ghép kiến thức môi trư-ờng xung quanh để củng cố vốn hiểu biết về biểu t¬ượng đã có của trẻ.

 

doc 24 trang Người đăng hieu90 Ngày đăng 18/03/2021 Lượt xem 534Lượt tải 1 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ài này có hiệu quả giúp giáo viên dạy đạt được kết quả cao trong giờ khám phá khoa học tôi đã không ngừng tìm tòi tài liệu trong sách báo, tivi, tranh ảnh, chuyện tranh, trên mạng  có những hình ảnh liên quan đến tiết học nhằm gây sự chú ý của trẻ.
Quan sát các hoạt động của trẻ.
Điều tra thực tế. 
Nghiên cứu tài liệu.
Kiểm tra đánh giá các hoạt động của trẻ. 
 	* Phương pháp đàm thoại:
 	- Hướng dẫn giáo viên trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ ở lớp cũng như ở nhà, qua đó giáo viên có điều kiện theo dõi, uốn nắn trẻ. Bên cạnh đó tôi cũng thường xuyên trò chuyện cùng cô giáo và trẻ để nắm bắt được các nguyên nhân làm cho trẻ không thích học khám phá khoa học và tìm ra hướng khắc phục.
 	* Phương pháp quan sát:
 	 - Trong các giờ học tiết khám phá khoa học của các lớp tôi luôn quan sát và hướng dẫn giáo viên chú ý từng trẻ để uốn nắn, củng cố, rèn luyện thêm các kỹ năng cho trẻ.
 	* Phương pháp điều tra:
 	- Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát, thống kê về hoạt động khám phá khoa học để nắm bắt khả năng nhận thức của từng cá nhân trẻ. Cụ thể như sau: 
STT
Kỹ năng quan sát, 
khả năng so sánh và phân loại
Số lượng
 ( 225 trẻ )
Tỷ lệ %
1
Loại tốt
61
27%
2
Loại khá
71
32%
3
Loại TB
60
26.5%
4
Loại yếu
35
14.5%
* Phương pháp dự giờ : 
 	- Tôi luôn luôn học hỏi đồng nghiệp và thông qua các tiết dự chuyên đề do Sở GD&ĐT, Phòng GD&DT tổ chức từ đó về trường tôi tổ chức chuyên đề ở trường, các buổi thao giảng dự giờ tìm ra các biện pháp để áp dụng phù hợp với trẻ.
II.PHẦN NỘI DUNG:
II.1.Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài
 Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ. Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ khám phá, trải nghiệm. Kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân. Tổ chức hợp lý các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế. Chương trình giáo dục mẫu giáo nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội, thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
	Khi tiếp xúc với trẻ tôi thường bắt gặp những điều bất ngờ ở trẻ như: Tới lớp trẻ lượm một chiếc lá đã bị sâu ăn và hỏi tôi tại sao hôm qua cô dạy không có là như thế này? Tại sao quả đu đủ nhà con không có hạt? Tại sao con không được hái hoa đẹp?...Tôi luôn trăn trở và muốn gửi đến bài viết này để muốn trải lời câu hỏi tại sao cần phải giáo dục trẻ từ thiên nhiên ngay trong những năm đầu đời.
Bởi vì, trước hết trẻ sẽ phát triển ý thức về sự tôn trọng và quan tâm đến môi trường sống ngay từ khi còn nhỏ. Thứ hai, sự tác động tích cực đối với môi trường tự nhiên cũng là một phần quan trọng cho sự phát triển sức khỏe của trẻ. Và sự tác động qua lại này cũng nâng cao khả năng học hỏi của trẻ. Trẻ được sống gần gũi với thế giới bên ngoài, điều đó sẽ tuyệt vời hơn nhiều sách vở, từ ngữ.
Thực hiện mục tiêu “Hướng vào trẻ, trẻ là trung tâm” của chương trình Mầm non mới hiện nay. Mọi hoạt động đều hướng vào trẻ và trẻ hoạt động tích cực giáo viên chỉ giữ vai trò “trung gian”. Bản thân tôi đã từng là giáo viên mầm non trực tiếp giáo dục chăm sóc trẻ luôn tìm hiểu, nghiên cứu và đã tìm ra một số biện pháp giúp trẻ khám phá khoa học
* Trẻ độ tuổi lớp chồi (4-5 tuổi) Tư duy trực quan hình tượng của trẻ phát triển mạnh. Nên trẻ có nhu cầu khám phá mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng. Trẻ bước đầu có khả năng suy luận.
* Trẻ độ tuổi lớp lá (5-6 tuổi) Trẻ ghi nhớ có chủ định và có khả năng tập trung tốt, bền vững. Khả năng tư duy trực quan hình tượng của trẻ phát triển mạnh mẽ. Ở tuổi này xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ cụ thể như:
+ Trẻ đi sâu tìm hiểu mối quan hệ sự vật hiện tượng và có nhu cầu tìm hiểu bản chất chung.
+ Trẻ bắt đầu lĩnh hội được tri thức ở trình độ khái quát cao và một số khái niệm sơ đẳng. Trẻ đang bước đầu của quá trình tư duy trừu tượng. 
+ Trả lời được những câu hỏi vì sao?, tại sao như thế?, làm thế nào?,....
- Chính vì vậy đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt đầu: bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đôi chân, đôi tay của mình ... tất cả những cử chỉ đó đều làm lên nhưng thói quen, kể cả thói xấu ..., trách nhiệm hình thành nhân cách cho trẻ tất cả thuộc về cô giáo Mầm non tạo nên nền tảng vững chắc, là chặng đường khôn lớn của trẻ. 
II.2.Thực trạng:
a.Thuận lợi, khó khăn:
* Thuận lợi:
- Bản thân tôi từng là một giáo viên liên tiếp trong nhiều năm tham gia dạy chuyên đề môn khám phá khoa học do phòng tổ chức nên được góp ý và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp cũng như các giáo viên lâu năm. Đến nay bản thân cũng là một phó hiệu trưởng thường xuyên dự và góp ý các tiết do giáo viên dạy nên chuyên môn tương đối tốt.
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, có khả năng sử dụng đồ dùng, CNTT vào giảng dạy. Phụ huynh đa số quan tâm đến việc học của con em mình.
- Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo.
* Khó khăn:
- Khả năng chú ý của trẻ còn hạn chế, ngôn ngữ phát triển chưa đồng đều, trẻ phát âm chưa được chuẩn lắm ở học sinh con em đồng bào dân tộc thiểu số.
- Số trẻ đến trường hầu hết là chưa qua nhóm lớp nhà trẻ, vốn hiểu biết về khám phá môi trường xã hội còn hạn chế.
b.Thành công, hạn chế:
* Thành công:
- Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã đi thực tế tại các lớp và hiệu quả đem lại sau những lần áp dụng các biện pháp giáo viên đẫ biết cách cung cấp kiến thức phù hợp với từng lứa tuổi, đã đưa trẻ đến vùng phát triển gần nhất, tạo cơ hội cho trẻ tự trải nghiệm ... từ đó trẻ rất hứng thú và phấn khởi khi được tham gia hoạt động khám phá khoa học.
* Hạn chế:
- Khi vận dụng đề tài này thì phải trải qua thực nghiệm tại các lớp có hạn chế như: Muốn tiết dạy thành công đòi hỏi phải có sự đầu tư về chuyên môn lẫn đồ dùng, phải có tranh ảnh thật sinh động hoặc vật thật ngoài ra các cô còn phải áp dụng CNTT vào tiết dạy để cho trẻ khám phá điều này rất khó khăn bởi hầu như thời gian cô đứng lớp từ sáng tới tối nên rất vất vả trong việc làm đồ dùng cũng như tìm kiếm hình ảnh cho trẻ khám phá ... 
c.Mặt mạnh, mặt yếu :
* Mặt mạnh:
- Khi giáo viên tiến hành các biện pháp nhằm giúp trẻ hứng thú hơn trong giờ học khám phá khoa học cung cấp cho trẻ thêm những hiểu biết như: về một số con vật dưới nước, côn trùng ... khám phá về các sự vật và hiện tượng tự nhiên xung quanh trẻ đã giúp trẻ có khả năng khám phá thế giới xung quanh. Thông qua đó trẻ biết diễn đạt và phát triển ngôn ngữ của mình.
- Ví dụ: Giáo viên biết cách giúp trẻ biết nhận biết phân biệt được đặc điểm của một một số loại cá như cá không có vảy, cá có vảy, cá nước ngọt, cá nước mặn và biết được một số hiện tượng trong thiên nhiên như mưa, nắng, nóng biết thêm được các hoạt động trong đời sống xung quanh trẻ một số nghề... từ đó trẻ đưa vào hoạt động góc một cách dễ dàng, giúp trẻ hình thành kỷ năng sống.
* Mặt yếu :
- Đồ dùng phục vụ tiết dạy chưa đa dạng.
- Một số giáo viên chưa thực sự chủ động linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ khám phá.
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động 
 - Một số giáo viên không biết cách khai thác trên mạng dẫn đến không đủ đồ dùng dụng cụ phục vụ cho tiết dạy hoạt động khám phá khoa học.
- Sử dụng đồ dùng dạy học chưa có khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý hiệu quả trên tiết học chưa cao.
e. Phân tích, đánh giá thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
- Bản thân luôn học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, biết lắng nghe, biết sửa sai, không bảo thủ nên học hỏi được rất nhiều từ bạn bè đồng ngiệp.
- Các đồng chí giáo viên được bố trí công tác phù hợp năng lực, giáo viên có tinh thần tự học cao.
- Cơ sở vật chất được phòng giáo dục rất quan tâm.
- Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã đi thực tế tại các lớp và hiệu quả đem lại sau những lần áp dụng các biện pháp giáo viên đã biết cách cung cấp kiến thức phù hợp với từng lứa tuổi, đã đưa trẻ đến vùng phát triển gần nhất, tạo cơ hội cho trẻ tự trải nghiệm ... từ đó trẻ rất hứng thú và phấn khởi khi được tham gia hoạt động khám phá khoa học.
- Giáo viên đa số là giáo viên trẻ có năng lực, tiếp cận những cái hay cái mới nhanh để từ đó áp dụng trong quá trình dạy học có hiệu quả cao. 
- Việc tiếp cận công nghệ thông tin trên mạng, soạn giảng trên máy vi tính không thành thạo ở một số giáo viên lớn tuổi.
- Các cháu học sinh con em điều kiện khó khăn, gia đình đi làm xa không quan tâm nên khả năng học tập của trẻ chậm.
II.3.Giải pháp, biện pháp:
a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và chính xác, không mang tính trừu tượng và khô khan.
- Phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần.
- Hòa mình vào với thiên nhiên trẻ được hít thở không khí trong lành, vận động thoải mái giúp phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ, chú ý.
- Phát triển khả năng định hướng trong không gian. 5 mặt đều được phát triển
b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
	* Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động khám phá khoa học:
- Để tạo được hứng thú cho trẻ trong giờ hoạt động “Khám phá khoa học” tôi chỉ đạo giáo viên thường xuyên tìm tòi từ những tạp chí, họa báo, vật thật ... những hình ảnh có màu sắc đẹp, hấp dẫn nhằm kích thích trẻ hoạt động tích cực hơn.
	- Hướng dẫn giáo viên cho trẻ được tiếp cận với vật thật nhiều hơn để trẻ được sờ, nếm, ngửi Đặc biệt thường xuyên dạy trẻ trên cương vị thông tin hiện đại để trẻ được tiếp cận nhiều hơn. 
- Tổ chức cho trẻ tự làm tự làm những đồ dùng, đồ chơi đơn giản từ những phế liệu, phế thải dễ kiếm để trẻ tìm hiểu và biết thêm một số công việc xung quanh mình.
	Ví dụ: Từ những vật liệu phế thải như lịch cũ có hình ảnh về hoa mai, chợ tết, thác nước, hoa, vỏ chai nhựa đựng nước, vỏ hộp bánh, vỏ hộp diêm  Sau đó tổ chức và hướng dẫn cho trẻ cuốc, xẻng, làm đoàn tàu, làm phích đựng nước .v.v.
	- Thông qua những lúc làm đồ chơi trẻ biết yêu quí công việc và biết yêu quý những sản phẩm tự tay mình làm ra.
	- Hướng đẫn giáo viên tạo cơ hội cho trẻ xây dựng nhiều mô hình hoạt động đẹp mắt, hấp dẫn như mô hình trang trại có vườn, ao, chuồng hay mô hình vườn chim của bé ... và đúng với thực tế. Bên cạnh đó cô giáo thường xuyên lồng ghép nhiều hoạt động khác để giúp trẻ đỡ nhàm chán hơn.
	- Để chuẩn bị tốt cho hoạt động “Khám phá khoa học” trước hết giáo viên cần phải chuẩn bị đồ dùng dạy học đầy đủ, phong phú, hấp dẫn, sinh động và có liên quan đến nội dung của bài học như vật thật để cho trẻ được thấy, trẻ được sờ, mó, nếm, ngửi  và một số tranh ảnh có màu sắc đẹp, rõ, hấp dẫn gây được hứng thú cho trẻ.
- Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích thích hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường xuyên khuyến khích giáo viên sử dụng đồ thật, vật thật hoặc hình ảnh động cho tiết học.
- Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi tham mưu với Hiệu trưởng nhà trường đầu năm học đã trang bị thêm thiết bị, đồ dùng dạy học cho các lớp như: Bảng, tranh ảnh, lôtô ... và xây dựng môi trường trong và ngoài lớp để trẻ có thể khám phá mọi lúc mọi nơi như: các cây xanh để tên ...
- Với các bậc phụ huynh giáo viên vận động mua thêm đồ dùng, tranh, truyện, đặc biệt là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả, ... sưu tầm ca dao, tục ngữ, đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ. 
- Với chính bản thân mỗi giáo viên phải biết tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương như: cọng rơm khô, trái cà phê khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy. Sưu tầm các loại hạt phượng ..., các loại vỏ trai ốc, hến sò ... để bổ sung giá đồ chơi của trẻ. 
- Giáo viên thường xuyên sưu tầm những bài thơ về môi trường xung quanh, sau đó dùng hình ảnh minh hoạ và có chữ viết đi cùng. Vừa giúp trẻ củng cố hình ảnh vừa để trẻ rèn luyện ngôn ngữ. Từ đó tư duy của trẻ cũng phát triển.
*Nghiên cứu kỹ bài trước khi dạy và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp:
- Muốn dạy trẻ nhận thức tốt có hiệu quả về hoạt động “Khám phá khoa học” thì giáo viên phải nghiên cứu kỹ bài dạy trước khi lên lớp và tìm hiểu từng nội dung đặc biệt trọng tâm của từng đề tài, xác định đúng từng nhóm đối tượng để từ đó đưa trẻ đến vùng phát triển gần nhất. Đặt hệ thống câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trẻ bên cạnh đó thường xuyên đặt những câu hỏi mở, các câu hỏi nhằm kích thích tính tìm tòi ở trẻ phát triển về trí tuệ và ngôn ngữ cho trẻ. Ví dụ: cái ấm có vói có quai ấm để cầm nhưng nếu gãy vòi, sứt quai điều gì sẽ xảy ra ...
	- Thường xuyên cho trẻ tiếp cận nhiều với mọi lúc mọi nơi với bất kỳ những trường hợp nào thông qua các giờ học như “Thể dục buổi sáng, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc và cả hoạt động chung”...
- Giáo viên thường xuyên học tập bạn bè đồng nghiệp, luyện tập giọng nói sao cho thật truyền cảm, tác phong dạy sao cho nhẹ nhàng, linh hoạt.
- Về kiến thức phải nắm vững phương pháp dạy, cung cấp cho trẻ kiến thức dù đơn giản nhưng cũng phải thật chính xác.
 - Tận dụng mọi thời gian để tự rèn luyện mình, dù ở lớp hay ở nhà.
 - Giáo viên phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhận xét, của BGH cũng như bạn bè đồng nghiệp sau mỗi tiết dạy, để từ đó phát huy những mặt tốt, khắc phục những hạn chế.
* Làm giàu vốn hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ:
 - Chúng ta phải mang biến các biểu tượng về thế giới xung quanh đến với trẻ bằng nhiều hình thức như:
- Câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ, đồng dao, tranh ảnh, đồ vật, vật thật  giúp trẻ không bị nhàm chán, lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tượng của mình.
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với con Trâu 
“Con gì ăn cỏ, đầu có hai sừng.
Lỗ mũi buộc thừng, cày bừa rất khỏe ”? đố bé là con gì?
- Trẻ đoán ngay được đó là con Trâu. 
Ví dụ: Chiếc xe buýt
“Mình tôi dài rộng, có nhiều chỗ ngồi.
Muốn đi cùng tôi, phải vào đúng bến ”? đố bé là xe gì?
- Trẻ đoán ngay được đó là xe buýt. Nhưng trẻ lại biết thêm xe buýt dài rộng, biết thêm luật muốn đi xe buýt là phải đúng bến
- Từ đó trẻ có thể so sánh xem con trâu và con các con khác hay các loại xe khác ... có đặc điểm gì giống nhau, có đặc điểm gì khác nhau? Sau đó trẻ có thể phân nhóm ... tùy vào từng độ tuổi đặc điểm nhận thức của trẻ.
- Ngoài ra giáo viên còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tượng thế giới xung quanh cho trẻ, qua hình ảnh mô hình, vật thật 
* Giúp trẻ thích học, sáng tạo, ghi nhớ trong tiết dạy:
- Muốn cho tiết dạy “Khám phá khoa học” được hiệu quả cao trước khi ngày mai lên lớp hôm nay dặn trẻ về nhà quan sát những gì liên quan đến đề tài ngày mai khám phá. Nếu được cho trẻ mang lên Ví dụ: Khám phá một số loại hoa giáo viên dặn trẻ về quan sát nếu được bố mẹ cho phép ngày mai các con nhà bạn nào có hoa mang lên để cả lớp cùng quan sát. Trong mỗi tiết với mỗi tranh ảnh hay vật thât giáo viên đều phải cho trẻ quan sát kỹ, cho trẻ đưa ra nhiều ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm của vật quan sát.
Ví dụ: Làm quen với con mèo, trẻ đã tìm được đặc điểm của con mèo có hai mắt rất tinh, chân có móng vuốt  Sau đó đặt câu hỏi gợi mở “đố các con biết vì sao con mèo lại trèo được cây? ” ...
- Như vậy không những trẻ biết được mèo có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trường sống của chúng, cách vận động, “Đi như thế nào ?” các bộ phận cơ thể ra sao. Nắm rõ đặc điểm trẻ quan sát dễ hơn, từ đó so sánh rất rõ ràng và phân loại cũng rất tốt.
- Trong tiết dạy môi trường xung quanh tôi thường xuyên nhắc nhở giáo viên lồng ghép thích hợp các môn khác một cách nhẹ nhàng, lô rích như “âm nhạc, tạo hình, văn học, toán  để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đề sâu và rộng hơn.
Ví dụ: Trong tiết dạy làm quen với những con vật đáng yêu quanh bé ...
Tôi cho trẻ thi “đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn. 
 “Con gì chân ngắn, mỏ lại có màng.
Mỏ bẹt màu vàng, hay kêu cạp cạp”? 
- Như vậy trẻ được câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc ...
- Giáo viên đưa âm nhạc xen kẽ giữa các phần chuyển tiếp trong tiết dạy hoặc trò chơi để tiết dạy thêm hào hứng, sôi động.
- Trong tiết dạy giáo viên cũng kích thích khả năng sáng tạo nghệ thuật của trẻ bằng cách gắn hoặc dán, hay tô màu để hoàn thiện bức tranh.
- Giáo viên thường tổ chức các trò chơi trong tiết học, các trò chơi động, trò chơi tĩnh đan xen nhau để tạo hứng thú, tiết dạy vui tươi, trẻ thêm phần hoạt bát nhanh nhẹn.
- Với mỗi hình ảnh cho trẻ làm quen đều có từ tương ứng ở dưới để luôn được tắm mình trong môi trường chữ viết.
* Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ 
- Với mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tượng cho trẻ làm quen, giáo viên tìm những cách vào bài khác nhau để gây sự chú ý, tò mò của trẻ, có thể dùng câu đố, bài hát  để trẻ nhận biết đối tượng bằng tranh ảnh và đồ vật, vật thật và mô hình.
- Với mỗi đối tượng trẻ được làm quen, trẻ được quan sát thật kỹ, trẻ biết đưa ra ý kiến nhận xét của mình, cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô, cứ mỗi lần làm quen như vậy giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục vào bài. Trẻ không những hiểu về vật đó mà còn có cách ứng xử, hành động với chúng.
- Sau khi trẻ được làm quen 3 – 4 đối tượng (trong 1bài) giáo viên cho trẻ so sánh 2 đối tượng một ..., để trẻ có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ phân loại trong các trò chơi.
- Tổ chức các trò chơi trong mỗi tiết dạy, giáo viên thường tổ chức đan xen trò chơi động với trò chơi tĩnh, làm cho không khí tiết dạy vui tươi hào hứng và hiệu quả.
- Trong các tiết học khác giáo viên cũng lồng ghép kiến thức môi trường xung quanh để củng cố vốn hiểu biết về biểu tượng đã có của trẻ.
- Trong hoạt động ngoài trời của trẻ giáo viên có thể cung cấp kiến thức cũ, làm quen kiến thức mới tận dụng mọi lúc, mọi nơi để giáo dục trẻ.
- Trong hoạt động góc, trẻ được chơi ở góc thiên nhiên, trẻ tưới cây, nhặt lá, bắt sâu, xem sách về môi trường xung quanh, đặc biệt trẻ được chơi nhiều đồ vật thật, khi được hoạt động nhiều với đồ vật thật, trẻ được nhìn, sờ, nắn, ngửi  Từ đó có hình ảnh trọn vẹn về những gì xung quanh trẻ, không thế mà tôi còn hướng dẫn giáo viên phát huy tính sáng tạo của trẻ bằng cách cho trẻ làm tranh từ nguyên liệu thiên nhiên như: Hoa, lá ép khô, vỏ cây, cọng rơm, vỏ ốc, hến,sò 
- Qua các buổi dạo chơi, tham quan, hoạt động ngoài trời, dã nngoại  khi trẻ quan sát thường hướng trẻ quan sát có chủ đích, hướng dẫn trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra trọn vẹn đối tượng đó.
Ví dụ: Cô và trẻ quan sát các loại hoa, hướng trẻ nhận biết màu sắc cánh hoa . cho trẻ sờ cánh hoa, ngửi mùi thơm các loại hoa.
- Trẻ được quan sát kỹ, trải nghiêm thực tế từ đó trẻ có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ so sánh rất tốt và phân loại rất nhanh.
- Dạo chơi tham quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế giới xung quanh mình mà giáo viên còn giáo dục tình yêu thiên nhiên ... ý thức bảo vệ môi trường ...
	* Kết hợp giữa gia đình và nhà trường.	
	- Phụ huynh và giáo viên là hai thành phần giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ nhằm góp phần vào sự phát triển toàn diện của trẻ trong các hoạt động nói chung và hoạt động “Khám phá khoa học” nói riêng, vì gia đình là một động lực rất lớn thúc đẩy và rèn luyện ý thức hoạt động của trẻ, gia đình còn là nguồn lực về cơ sở, vật chất tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện tốt các hoạt động.
	- Giáo viên vận động phụ huynh thường xuyên cho trẻ tiếp xúc và luyện tập ở nhà cũng như những lần vui chơi bên ngoài.
c. Điều kiện để thực 

Tài liệu đính kèm:

  • doc29SKKN NH 2014-2015 CHI.doc