Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học

 Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 tuổi, đây là giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo chuẩn bị bước vào lớp 1 nên cần phải rèn luyện những kỹ năng cơ bản Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với con người nhất là tuổi mầm non khi mới đến trường, đòi hỏi những nhà giáo dục trẻ phải là người có đạo đức, mẫu mực, có trình độ, yêu nghề, mến trẻ. Vì vậy môn làm quen văn học là một môn vô cùng quan trọng đối với trẻ mầm non.

Từ đó tôi nhận thấy rằng bộ môn làm quen văn học có tầm quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ và qua đọc thơ kể chuyện làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện khả năng phát âm và cách diễn đạt mạch lạc. Các tác phẩm thơ chuyện chỉ có thể phát huy tác dụng của nó khi cô biết chuyển tải được tư tưởng cảm xúc của tác giả và nội dung tác phẩm thông qua các hình thức nghệ thuật thật hấp dẫn, phong phú, đa dạng. Qua đó giúp trẻ phát huy được tính tích cực cá nhân- tự tin- độc lập- sáng tạo- hình thành tư duy- khả năng ghi nhớ có chủ đích, những tình cảm đạo đức tốt đẹp có khả năng hoạt động nghệ thuật, sáng tạo.

- Văn học là môn rất quan trọng đối với trẻ mầm non, là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ có đủ vốn từ để nói năng lưu loát, diễn đạt gãy gọn biết sử dụng từ đúng lúc, đúng chỗ, không những thế mà việc dạy trẻ làm quen với những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy nghĩ. Thông qua nội dung các tác phẩm giáo dục trẻ biết yêu quý người hiền lành, biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè, biết nhường nhịn em nhỏ.

 

doc 20 trang Người đăng hieu90 Lượt xem 939Lượt tải 2 Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể chuyện, chơi trò chơi đóng kịch; Cao hơn là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu chuyện theo tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
	Trong mỗi tác phẩm văn học, thế giới mới của cuộc sống thực tại bao gồm thiên nhiên, xã hội, con người được diển tả, biểu đạt, truyền đạt trong những hình thức đa dạng độc đáo. Văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện tượng thiên nhiên, vủ trụ mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói về những gì gần gũi trong môi trường sống của trẻ như làng quê, cánh đồng, dòng sông, phiên chợ, lớp học, khu phố,Đây cũng là đối tượng miêu tả của văn học làm nên sự phong phú, hấp dẫn của đời sống tinh thần. Nhờ được nghe, tiếp xúc với một số lượng văn học, có những hiểu biết sơ đẳng về văn học, đó là khả năng mô tả cuộc sống xung quanh phong phú, hấp dẫn bằng những dạng thức khác nhau. Bước đầu trẻ sẽ nhận biết được sự khác nhau về nội dung và hình thức giữa các thể loại thơ, chuyện. Không những giúp trẻ cảm nhận được cái đặc sắc của cách diễn đạt hình tượng, nhà sư phạm còn cần giúp trẻ phân biệt được hình tượng nghệ thuật với hiện thực, hình thành một số khái niệm văn học như: Thơ, chuyện, nhân vật, hình ảnh, giúp trẻ trao đổi những điều đã được nghe và bộc lộ những suy nghĩ của mình về tác phẩm, nhằm phát triển đời sống tinh thần của trẻ.
	Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, cần giúp trẻ nhận biết các mối quan hệ biểu hiện giữa hoàn cảnh, trạng thái, tình huống và nhân vật; giữa lời kể, lời thuật và ngôn ngữ nhân vật; Giữa không khí, âm sắc, giọng điệu chung của tác phẩm văn học và hành động văn học, nhằm giúp trẻ nhận ra tính liên tục của cốt truyện trong các mối liên quan đến nhân vật trung tâm của tác phẩm.
	Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ, phát triển ở trẻ hứng thú “đọc sách” kỹ năng đọc và kể tác phẩm.
	II.2. Thực trạng
Tổ dân phố Buôn Trấp là một đơn vị thuộc vùng đặc biệt khó khăn.Với trên 50 % dân
số trong địa bàn là người dân tộc Ê Đê. Là vùng thuần nông, tỷ lệ hộ đói nghèo và cận nghèo cao. Trình độ dân trí tương đối thấp vì thế việc nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ học tập của một bộ phận không nhỏ người dân trong xã chưa cao.
Qua quá trình công tác nhiều năm trên địa bàn mà đa số học sinh là người dân tộc thiểu số tôi nhận thấy:
a. Thuận lợi, khó khăn
 	* Thuận lợi:
Trong năm học vừa qua được sự quan tâm của nhà trường, lớp lá 5 của tôi có 2 cô/lớp
Nhìn chung giáo viên đều nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm, yêu nghề, mến trẻ quan tâm chăm sóc và giáo dục trẻ, giáo viên được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đầy đủ, phòng học rộng, thoáng, bàn ghế đẹp, đúng quy cách, đồ dùng đồ chơi phong phú.
Phòng giáo dục, nhà trường luôn quan tâm tới mọi hoạt động của giáo viên nhất là việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Các bậc phụ huynh đã có sự quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ, vì vậy hầu hết trẻ trong lớp đều nhanh nhen, tích cực.
* Khó khăn:
Về phía học sinh:
Học sinh còn bỡ ngỡ khi đến trường đến lớp cũng như tham gia vào các hoạt động học tập và vui chơi. Đối với học sinh dân tộc vốn Tiếng Việt của các cháu còn nghèo nên giao tiếp của các cháu còn nhiều hạn chế. Do đó khi bước vào lớp lá kiến thức về Tiếng Việt của các cháu như một trang giấy trắng. Giáo viên rất vất vả trong quá trình truyền thụ kiến thức cho các cháu vì người giáo viên vừa phải dạy Tiếng Việt kết hợp dạy kiến thức cho học sinh. Bằng ngôn ngữ Tiếng Việt song vốn từ của các em cũng chưa được phong phú, khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đôi khi chưa chính xác như cách dùng từ, nói thành câu trong giao tiếp thông thường. Do vốn từ còn hạn chế nên các cháu thường rất khó khăn trong việc diễn đạt một vấn đề một cách rõ ràng để người nghe dễ hiểu.
Về phía giáo viên:
 Do bất đồng ngôn ngữ nên trong quá trình giảng dạy giáo viên thường rất vất vả nhất là đối với các cháu học sinh mới chưa qua chương trình lớp chồi.
Về phía gia đình học sinh.
Do trình độ dân trí tương đối thấp cộng với nhiều hủ tục lạc hậu như làm cúng; làm ma, kiêng  gia đình thường cho con em nghỉ học không lý do. Đời sống của đa số nhân dân trong vùng còn gặp nhiều khó khăn nên vào mùa nương rẫy một bộ phận nhỏ học sinh còn hay nghỉ học để đi rẫy với bố mẹ dẫn đến tỷ lệ chuyên cần của các em chưa cao. Phần đa các bậc cha mẹ thường không quan tâm đến việc học tập của con cái mà phó thác toàn bộ cho các cô giáo trong trường. Sự đầu tư cho con cái về thời gian cũng như sách vở, đồ dùng học tập hầu như là không có. Mặt khác, trong sinh hoạt gia đình hầu như các thành viên trong gia đình không bao giờ sử dụng tiếng phổ thông mà hoàn toàn sử dụng tiếng mẹ đẻ trong quá trình giao tiếp. Vì vậy, các em thường rất ngại khi giao tiếp bằng tiếng phổ thông.
b. Thành công, hạn chế
*Thành công :
 - Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã thực hành thực tế tại phân hiệu tôi và hiệu quả đem lại sau những lần áp dụng các biện pháp là trẻ phân hiệu tôi rất hứng thú và phấn khởi khi được học môn làm quen văn học trẻ biết đọc thơ, kể chuyện theo tranh minh họa diễn cảm thể hiện cảm xúc của nhân vật 
*Hạn chế :
- Khi vận dụng đề tài này thì phải trải qua thực nghiệm tại lớp, tại thôn buôn đòi hỏi phải có sự hợp tác của phụ huynh và thời gian mà thời gian của giáo viên rất hạn chế.
Một số phụ huynh đồng bào dân tộc nhận thức còn kém không chịu hợp tác với cô giáo trong quá trình giáo dục trẻ.
c.Mặt mạnh, mặt yếu 
*Mặt mạnh :
- Khi tiến hành các biện pháp nhằm giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học đã giúp trẻ có khả năng phát triển ngôn ngữ một cách chính xác và đúng nhất, phát triển tốt về mặt ngôn ngữ từ đó trẻ sẽ phát triển tốt các mặt khác.
- Bên cạnh đó tôi cũng thường xuyên trò chuyện cùng trẻ để nắm bắt được các nguyên nhân làm cho trẻ phát âm không chính xác và tìm ra hướng khắc phục.
*Mặt yếu : 
 	- Một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm chăm sóc đến con em mình . 
 	 - Khả năng hiểu biết của trẻ còn hạn chế vì một số cháu chưa được học lớp 3 - 4 tuổi nên còn nhút nhát và nói Tiếng Việt chưa rõ.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
+ Nguyên nhân.
- Khi cho trẻ làm quen với tác phẩn văn học góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ đặc biệt là phát triển ngôn ngữ, phát triển ở trẻ hứng thú “đọc sách” kỷ năng đọc và kể tác phẩm..
- Do nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, qua việc cho trẻ tiếp cận với các tác phẩm văn học sẽ góp phần giúp trẻ phát triển về mọi mặt, nhất là phát triển về ngôn ngữ. 
- Một điều quan trọng để giúp tôi thành công trong việc tìm ra các giải pháp, biện pháp cho trẻ học tốt môn làm quen với tác phẩm văn học là hình thức tính chất tiết học của giáo viên, nếu đồ dùng đẹp, hấp dẫn, đồ dùng thay đổi liên tục sáng tạo mà hình thức tính chất tiết học khi được quan tâm đến thì kết quả tiết học sẽ rất cao và có hiệu quả hơn.
 - Trẻ Mầm Non không thể cảm nhận được nội dung nghệ thuật của bài thơ, câu chuyện, khi thiếu sự tác động của cô giáo và người lớn xung quanh. Bởi trẻ chưa biết đọc mà nhờ vào sự tổ chức, hướng dẫn qua giọng đọc kể của cô giáo làm cho tác phẩm văn học đến với các cháu trở thành nhân tố giúp trẻ phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ, thẩm mỹ hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho trẻ.
+Yếu tố tác động.
 - Đa số là con em đồng bào dân tộc Ê đê khả năng nhận thức của trẻ không đồng đều, trẻ phát âm và nói Tiếng Việt chưa rõ, trẻ còn rụt rè, nhút nhát.
	e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao về chuyên môn của BGH nhà trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đầy đủ, phòng học rộng, thoáng, bàn ghế đẹp, đúng quy cách, đồ dùng đồ chơi phong phú. Bản thân tôi nhiều năm liền đều phụ trách lớp mẫu giáo lớn, tham gia tích cực vào các đợt thao giảng, sinh hoạt chuyên môn do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức, từ đó bản thân tích lũy được một số kinh nghiệm để giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học. Vì tôi nghĩ cần phát triển tốt về mặt ngôn ngữ từ đó trẻ sẽ phát triển tốt các mặt khác. Do vậy mà tôi đã thực hiện thành công đề tài mà tôi đã chọn khi áp dụng vào giảng dạy ở lớp tôi phụ trách thì 100% trẻ chậm đã mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, trẻ nói rõ ràng mạch lạc hơn, nói nhiều câu có nghĩa đầy đủ.
Nhưng bên cạnh đó nhận thức của một số phụ huynh về tầm quan trọng của việc rèn luyện các kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một chưa cao. Một số trẻ người đồng bào dân tộc ê đê còn nhút nhát, ngại giao tiếp phát âm Tiếng Việt không chuẩn. Vì vậy nên tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện đề tài này.
II.3. Giải pháp, biện pháp
	a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
- Nhằm giúp cho trẻ khả năng ghi nhớ, khả năng hiểu biết của trẻ và phát triển về mặt ngôn ngữ nói, phát âm của trẻ. Đây là một chuyên đề lớn, không kém phần quan trọng khi thực hiện chuyên đề này giáo viên cần nghiên cứu kỹ tài liệu chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên tham gia dự giờ các tiết dạy thơ, chuyện để đúc rút kinh nghiệm cho bản thân. 
 	 Từ đó tôi nhận thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh dặc biệt là học sinh đồng bào dân tộc có tầm quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ. Qua đó giúp trẻ phát huy được tính tích cực cá nhân- tự tin- độc lập- sáng tạo- hình thành tư duy- khả năng ghi nhớ có chủ đích, những tình cảm đạo đức tốt đẹp có khả năng hoạt động nghệ thuật, sáng tạo. 
 - Để thu hút, lôi cuốn trẻ vào giờ học.
- Giúp trẻ nắm bắt được nội dung tiết học một cách chủ động.
- Giúp trẻ tiếp thu, củng cố những tri thức và kỹ năng một cách nhẹ nhàng.
- Giúp cho trẻ rất nhiều trong quá trình chơi trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ tốt hơn.
- Giúp trẻ phát triển trí nhớ, tập trẻ quan sát có chủ định để ghi nhớ, tập trẻ trả lời có lôgíc luyện đặt câu.
- Bằng nhiều hình thức tổ chức các hoạt động phong phú, hấp dẫn khác nhau càng gây hứng thú thu hút trẻ, trẻ càng dễ tiếp thu dễ nhớ lâu quên, nhẹ nhàng lĩnh hội kiến thức hơn. 
	Thường xuyên nghiên cứu kỹ các bài soạn, soạn bài trước khi giảng dạy.
	Làm, mua sắm, sưu tầm đủ đồ dùng, đồ chơi phong phú hấp dẫn với trẻ và đảm bảo tính khoa học .
 b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
* Tạo môi trường hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo.
Tạo môi trường cho trẻ hoạt động là rất cần thiết trong chương trình đổi mới Hiện nay, nếu cô tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt thì sẽ kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ, tham gia vào các hoạt động và kết quả đạt được rất cao. Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu vào tạo môi trường bằng cách đưa hình ảnh nhân vật của các câu chuyện nổi bật vào góc văn học và một số góc trong và ngoài lớp học thể hiện trên các mảng tường. Vẽ và sưu tầm một số bộ truyện tranh ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy, vận động phụ huynh đóng góp truyện tranh đưa vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường ngày. Những câu chuyện được thể hiện trên các mảng tường trong không gian to đã giúp trẻ dễ tri giác, trẻ được thảo luận, bàn bạc về câu chuyện đó. Từ đó trẻ biết vận dụng những kiến thức đó vào kể chuyện sáng tạo một cách dễ dàng. Ngoài việc tạo những bức tranh trên mảng tường, những tập truyện tranh chữ to tôi còn đi sâu làm một số đồ dùng trực quan cho trẻ hoạt động như: một số con rối dẹt có bánh xe, có cử động tay chân và tận dụng những truyện tranh cũ, những sản phẩm vẽ của trẻ, cắt dán bìa cứng cho trẻ ghép tranh kể chuyện sáng tạo hoặc cắt rời các con vật cho trẻ tự chọn các con vật đó để kể chuyện sáng tạo theo ý tưởng của mình. Điều đặc biệt hơn nữa tôi đầu tư suy nghĩ và làm ra các loại rối tay cho trẻ hoạt động. Thực tế tôi nhận thấy đồ dung làm bằng rối tay hầu như ở các lớp không có cho trẻ hoạt động, qua nghiên cứu tìm tòi tôi đã vận dụng làm từ các quả bóng, chổi rơm, đĩa nhựa đồ chơi, hộp sữađể làm mặt con rối sau đó dùng vải hoặc len móc làm váy, thân tay để khi trẻ sử dụng không bị thô và cứng. Các khuôn mặt có thể thay đổi tuỳ theo nội dung, nhân vật của câu chuyện trẻ kể.
 Qua cách nghĩ và làm như vậy tôi đã tạo ra một góc văn học với đầy đủ chủng loại về đồ dùng trực quan đa dạng phong phú, đã giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động và nhiều ý tưởng hay khi trẻ kể chuyện sáng tạo.
 Bên cạnh đó trong giờ hoạt động ngoài trời tôi còn tận dụng những bức tranh tường ở trong trường bằng cách gợi mở cho trẻ cùng nhau kể chuyện về những bức tranh đó hoặc có các con vật trong sân trường tôi cũng gợi mở cho trẻ thi nhau kể chuyện về các con vật đóhình thức này đã giúp trẻ em có nhiều ý tưởng sáng tạo hay và có ý thức thi đua để đạt kết quả tốt.
 Tạo môi trường cho trẻ kể chuyện sáng tạo là một việc làm vô cùng quan trọng bởi nó là chỗ dựa, là cơ sở vững chắc cho trẻ kể chuyện sáng tạo. Đòi hỏi cô giáo phải biết tạo cảm xúc cho trẻ bằng các con vật ngộ nghĩnh, đáng yêu, đồng thời cũng phải biết hướng lái, gợi mở cho trẻ có cảm xúc tích cực khi tham gia hoạt động kể chuyện sáng tạo. Qua nội dung các bức tranh, các nhân vật, các con rối trẻ được xem và nói lên nhận xét của mình về các đồ dùng đó. Như vậy ngôn ngữ cuả trẻ được phát triển một cách phong phú và đa dạng.
* Làm quen với thể loại truyện kể kết hợp với các bộ môn khác:
 - Theo phương pháp dạy học tích hợp với môn làm quen văn học có thể lồng ghép, kết hợp với tất cả các môn khác và giúp cho các bộ môn khác trở nên sinh động hơn. Ví dụ Môn âm nhạc hoạt động bổ trợ đề tài :câu truyện :”nhổ củ cải”Cho trẻ vận động theo bài “ Củ cải trắng”. Ví dụ: Môn khám phá khoa học: chủ đề :động vật nuôi trong gia đình, câu truyện “Gà trống, mèo con và cún con”.Trẻ biết tên, đặc điểm, nơi sống của một số con vật nuôi trong gia đình.
 Môn toán : Tên bài dạy :” Cao hơn- thấp- hơn, câu chuyện “cây khế”.trẻ áp dụng được sự so sánh đặc điểm về ngoại hình của hai anh em .
 Môn chữ cái : luyện phát âm qua trò chơi tìm chữ l-n-m cho trẻ phát âm.
 * Tổ chức ôn luyện mọi lúc mọi nơi, ôn luyện thông qua lễ hội :
 - Ôn luyện mọi lúc mọi nơi cũng là biện pháp giúp trẻ ổn định, thông qua cách hoạt động tổ chức ngày lễ hội tổ chức cho trẻ hoạt động kể chuyện , đóng kịch, theo một chương trình biểu diễn văn nghệ mà 100% trẻ được tham gia nhằm giúp trẻ hứng thú với bộ môn làm quen với văn học thể loại truyện kể cho trẻ.
 Ví dụ : Ngày hội 8-3 trẻ kể về em bé quàng khăn đỏ” hay ngày tết 1- 6 kể về Bác Hồ với thiếu nhi , hay ngày 22-12 trẻ kể chuyện sáng tạo về chú bộ đội , hoặc hội thi bé kể chuyện giỏi.
 	* Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ qua bộ môn làm quen văn học thể loại truyện kể, tôi cho trẻ kể lại truyện, chơi đóng kịch và đóng vai theo chủ đề:
 * Dạy trẻ kể lại truyện: 
 - Trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễn cảm tác phẩm văn học mà trẻ đã được nghe. Trẻ sử dụng nội dung, hình thức ngôn ngữ đã có sẵn của các tác giả và của cô giáo. Tuy nhiên yêu cầu trẻ không học thuộc lòng câu chuyện. Trẻ phải kể bằng ngôn ngữ của chính mình, truyền đạt nội dung câu chuyện một cách tự do thoải mái nhưng phải đảm bảo nội dung cốt truyện.
 - Yêu cầu đối với trẻ: 
 - Kể nội dung chính của câu chuyện, không yêu cầu trẻ kể chi tiết toàn bộ nội dung tác phẩm. Lời kể phải có các cấu trúc ngữ pháp. Khuyến khích trẻ dùng ngôn ngữ của chính mình kể lại. Giọng kể diễn cảm, to, rõ, không ê a ấp úng, cố gắng thể hiện đúng ngôn ngữ đối thoại hay độc thoại.
 - Chuận bị: Tiến hành trước giờ học, kể chuyện cho trẻ nghe. Trước khi kể cô giao nhiệm vụ ghi nhớ và kể lại.
 - Tiến hành: Đàm thoại với trẻ về nội dung câu chuyện. Đàm thoại nhằm mục đích giúp trẻ nhớ lại nội dung câu chuyện, giúp trẻ xây dựng dàn ý câu chuyện kể, lựa chọn hình thức ngôn ngữ.
Ví dụ: Truyện cây khế: Theo con tính cách người em như thế nào?
 + Yêu cầu với câu hỏi: Đặt câu hỏi về tên nhân vật, thời gian, không gian, hành động chính, lời nói, cá tính nhân vật, không nên đặt quá nhiều câu hỏi chi tiết vụn vặt. 
Ví dụ: Truyện: Dê con nhanh trí: Dê mẹ dặn dê con như thế nào? Câu hỏi phải phù hợp với trẻ cả về hình thức ngữ pháp và nhận thức. Khi đàm thoại cô cần lưu ý giới thiệu cho trẻ biết thêm các từ đồng nghĩa những cụm từ thay thế để tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn từ để kể.
 Tôi dùng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của trẻ kể lại nội dung tác phẩm: Cô kể diễn cảm, lời kể có các mẫu câu cần luyện cho trẻ. Mẫu truyện của cô có tác dụng chỉ cho trẻ thấy trước kết quả trẻ cần đạt được: Về nội dung, độ dài, trình tự câu chuyện.
Ví dụ: Câu chuyện cây khế: Ngày xửa ngày xưa có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Khi người anh lấy vợ, người anh không muốn ở chung với người em nữa. Người anh tham lam chiếm hết ruộng vườn, trâu bò, nhà cửa của cha mẹ để lại, chỉ cho người em một cây khế và một túp lều nhỏ.
 - Thời gian đầu khi chưa quen trẻ kể theo mẫu của cô (hoặc đối với trẻ kém). Khi trẻ đã quen cô khuyến khích trẻ kể bằng ngôn ngữ của mình.
 Tôi đặc biệt lưu ý khi trẻ kể: 
 Trẻ phải quay mặt xuống các bạn, kể với tốc độ vừa phải, giọng rõ ràng, tư thế tự nhiên. Trong quá trình kể, trẻ đứng sai tư thế, phát âm sai cô nên để trẻ kể xong mới sửa cho trẻ.
 Khi cô gọi trẻ lên, trẻ không kể, cô nên đặt câu hỏi gợi ý để trẻ trả lời giúp trẻ mạnh dạn, có thói quen giao tiếp tốt.
 Nếu trẻ quên, cô có thể nhắc hoặc đặt câu hỏi cho trẻ nhớ.
 Trẻ kể xong, cô nhận xét, đánh giá truyện kể của trẻ, không nên để đến cuối giờ trẻ sẽ quên mất những ưu nhược điểm của mình hay của bạn. Cô cần nhận xét đúng, chính xác để có tác dụng khuyến khích, động viên trẻ, nhận xét cả về nội dung, ngôn ngữ tác phong.
 * Chơi đóng vai theo chủ đề: 
 - Khi chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào cuộc nói chuyện với bạn để phân vai, trao đổi với nhau trong khi chơi, trẻ bắt chước các nhân vật mà trẻ đóng vai, làm cho ngôn ngữ đối thoại của trẻ thêm phong phú và đa dạng.
Ví dụ: Chủ đề: Gia đình: Nấu ăn: Trẻ tự phân vai chơi của mình: Mẹ đi chợ, nấu ăn, chăm sóc các con, ba đi làm, ông bà kể chuyện cho các cháu nghe.
 * Chơi đóng kịch: 
 - Tổ chức cho trẻ chơi đóng kịch là một phương pháp tốt để phát triển ngôn ngữ đối thoại cho trẻ. Nội dung kịch được chuyển thể từ tác phẩm văn học mà trẻ đã được làm quen. Trẻ làm quen với các mẫu câu văn học đã được gọt giũa chọn lọc. Khi đóng kịch trẻ cố gắng thể hiện đúng ngữ điệu, tính cách nhân vật mà trẻ đóng, giúp ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái biểu cảm rõ rệt.
Ví dụ: Chủ đề: Gia đình, câu chuyện Tích Chu.
 Cháu Y Phan đóng vai Tich Chu ( lúc đầu ham chơi, thái độ không vâng lời), sau biết lỗi (tỏ thái độ biết nhận lỗi, giọng trầm): Bà ơi, bà đi đâu? Bà ở lại với cháu. Cháu sẽ mang nước cho bà, bà ơi!
 Cháu H’ Kim đóng vai bà (giong run run, dứt khoát): Bà đi đây! Bà không về nữa đâu!
 Cháu Mỹ đóng vai Bà Tiên (tính cách hay giúp đỡ mọi người, giọng dịu dàng, nhỏ nhẹ): Nếu cháu muốn bà cháu trở lại thành người thì cháu phải đi lấy nước suối tiên cho bà cháu uống. Đường lên suối tiên xa lắm, cháu có đi được không?...
* Sử dụng công nghệ thông tin vào môn làm quen văn học ( Dạy máy chiếu ) cho trẻ:
- Để trẻ có nền móng vững chắc ngay từ nhỏ tôi đã tích cực tìm tòi, học hỏi để luôn sáng tạo, đổi mới cách tổ chức các hoạt động cho trẻ. Nhằm tạo cơ hội tốt nhất để trẻ được tham gia vào các hoạt động, trẻ tiếp thu kiến thức một cách chủ động giúp trẻ được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ. Với những hình thức cho trẻ hoạt động như: Cho trẻ quan sát tranh vẽ  thích thú, trẻ sẽ tập trung chú ý, giờ hoạt động làm quen thể loại truyện kể sẽ cho kết quả tốt nhất.
 	Ví dụ: Đề tài: Chuyện “Chú dê đen”
Tôi vào phần power point chọn slide show tạo trang trình diễn cho từng con vật xuất hiện theo lời kể của cô (trẻ) và trình chiếu cho trẻ xem, trẻ lớp tôi rất thích thú, tiết học

Tài liệu đính kèm:

  • doc13SKKN nga 2014 - 2015.doc