SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Đối với cha mẹ học sinh vận động sưu tầm tranh, truyện, đặc biệt là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả, .

Đối với mỗi giáo viên phải biết tận dụng những nguyên vật liệu đã qua sử dụng như: vải vụn, cọng rơm khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy. S¬ưu tầm các loại hạt keo, các loại vỏ nghêu, ốc,. để bổ sung giá đồ chơi của trẻ.

- Giáo viên s¬ưu tầm nhiều bài thơ về môi trường xung quanh, sau đó dùng hình ảnh minh hoạ và có chữ viết đi cùng. Vừa giúp trẻ củng cố hình ảnh vừa để trẻ rèn luyện ngôn ngữ. Từ đó tư¬ duy của trẻ cũng phát triển.

Biện pháp 4: Một số biện pháp giúp giáo viên hướng dẫn trẻ đạt kết quả tốt trong hoạt động khám phá khoa học và lồng ghép các hoạt động khác.

* Làm giàu vốn hiểu biết về môi trư¬ờng xung quanh:

 Cho trẻ biết các biểu tư¬ợng về thế giới xung quanh đến với trẻ bằng nhiều hình thức như: Câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ, đồng dao, tranh ảnh, đồ vật, vật thật giúp trẻ không bị nhàm chán, lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tượng của mình.

 

doc 30 trang Người đăng hieu90 Lượt xem 1093Lượt tải 2 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi của trẻ mặc dù đã được đầu tư, mua sắm nhưng vẫn còn thiếu so quy định.
Hầu hết trẻ em thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, con hộ nghèo và cận nghèo nhiều, nên việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ còn hạn chế chưa được quan tâm. 
Với thực trạng nghiên cứu đề tài nêu trên ảnh hưởng đến định hướng của bản thân về việc giúp trẻ học tốt khám phá khoa học trong môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Chính vì vậy để đề tài nghiên cứu đạt hiệu quả cao bản thân tôi tiếp tục vận dụng các biện pháp cũ để phát huy những mặt mạnh, những thành công, tận dụng những thuận lợi của thực trạng và bổ sung những cái mới linh hoạt hơn, ứng dụng thực tế, áp dụng mọi lúc mọi nơi. 
3. Nội dung và hình thức của giải pháp: 
a. Mục tiêu của giải pháp.
Từ những nguyên nhân, các yếu tố thực trạng nêu trên tôi lựa chọn các giải pháp biện pháp phù hợp. Những giải pháp biện pháp đó nhằm mục đích giúp giáo làm tốt công tác chủ nhiệm từ đó thu hút trẻ thích đến trường.
- Lựa chọn các biện pháp, giải pháp phù hợp sẽ giải quyết được vấn đề từ lòng tin đến thay đổi cách nhìn của các bạc cha mẹ khi đưa con em đi học ở trường lơp mầm non, từ đó giáo viên biết cách thu hút trẻ đến trường và tăng tỷ lệ trẻ đi học chuyên cần.
- Khi áp dụng những biện pháp này thành công sẽ mang lại kết quả sau:
 Giáo viên có định hướng rõ ràng trong việc trang trí môi trường trong và ngoài lớp cũng như công tác tự làm đồ dùng dạy họcdạy trẻ hàng ngày, tạo được mối liên hệ phối hợp giữa giáo viên và cộng đồng.
Trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực, phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú hơn trong mọi hoạt động. 
Trẻ mạnh dạn, tự tin, phản ứng tốt với mọi tình huống hàng ngày của trẻ. 
Cha mẹ học sinh thấy được sự thay đổi của con em mình, từ đó có sự phối hợp tốt hơn giữa nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh để công tác chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là môn khám phá khoa học.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Biện pháp 1: Các hình thức tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên:
Từ đầu năm học tôi bám vào kế hoạch của phòng giáo dục để lên kế hoạch cụ thể cho từng tháng... Thực hiện được việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, giúp giáo viên có thêm kiến thức, kỹ năng mới trong thực hiện giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Đồng thời qua đó cũng giúp Ban giám hiệu chúng tôi có những định hướng đúng để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn trong suốt cả năm học thiết thực và hiệu quả hơn.
Tổ chức bồi dưỡng dưới nhiều hình thức chỉ đạo giáo viên tự nghiên cứu kỹ các nội dung chương trình, sách hướng dẫn thực hiện chương trình, các tài liệu có liên quan đến giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Tổ chức cho giáo viên thảo luận nêu được những vướng mắc trong quá trình nghiên cứu tài liệu và thực hiện chương trình. Bồi dưỡng chuyên môn theo kế hoạch định kì đầu năm, hàng tháng là một việc làm không thể thiếu của cán bộ quản lý. Việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là mục tiêu hàng đầu để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. 
Tổ chức thao giảng cho giáo viên cũng là một biện pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên có hiệu quả. Chuẩn bị về đồ dùng, giáo cụ trực quan, về nội dung kiến thức, về kỹ năng, thái độ, phù hợp khả năng, nhu cầu, hứng thú, vốn kinh nghiệm của trẻ. Phương pháp dạy học phải phù hợp với khả năng của trẻ, giúp trẻ đạt được mục tiêu cần thiết. Cách tổ chức lớp của giáo viên phát huy được tính tích cực của trẻ... từ đó rút ra những ưu, khuyết điểm và nguyên nhân cho bản thân giáo viên được dự giờ học hỏi kinh nghiệm.
Một trong những yếu tố có hiệu quả nhất là cần phải thay đổi cách dự giờ từ việc hướng tập trung vào giáo viên sang hướng tập trung vào trẻ. Một hoạt động có thành công hay không không phải chỉ quan sát đánh giá quá trình lên lớp, tác phong của giáo viên mà lấy trẻ làm trung tâm, lấy kết quả trong quá trình hoạt động của trẻ làm thước đo năng lực của giáo viên. 
Trong quá trình giáo viên thực hiện, tôi đã chú ý kiểm tra đánh giá kịp thời từng chuyên đề theo tháng, nắm bắt được khả năng tiếp cận kiến thức và vận dụng thực tế của mỗi giáo viên. Tôi thấy hình thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hàng tháng rất có hiệu quả trong việc nâng cao năng lực cũng như khả năng vận dụng linh hoạt môn khám phá khoa học trong môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm vào thực tế của mỗi giáo viên.
Nghiên cứu kỹ bài trước khi dạy và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp:
Muốn dạy trẻ nhận thức tốt có hiệu quả về hoạt động “Khám phá khoa học” thì giáo viên phải nghiên cứu kỹ bài dạy trước khi lên lớp và tìm hiểu từng nội dung đặc biệt trọng tâm của từng đề tài, xác định đúng từng nhóm đối tượng để từ đó đưa trẻ đến vùng phát triển gần nhất. Đặt hệ thống câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trẻ bên cạnh đó thường xuyên đặt những câu hỏi mở, các câu hỏi nhằm kích thích tính tìm tòi ở trẻ phát triển về trí tuệ và ngôn ngữ cho trẻ. Ví dụ: cái bình đựng nước có vòi có quai để cầm, nhưng nếu sử dụng không tốt sẽ bị bể nắp bình thì điều gì sẽ xảy ra ...
Trong giờ hoạt động cho trẻ tiếp cận nhiều ở mọi lúc mọi nơi với bất kỳ những trường hợp nào thông qua các giờ học như “Thể dục buổi sáng, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc và cả hoạt động chung”...
Giáo viên thường xuyên học hỏi trau dồi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, luyện tập giọng nói sao cho thật truyền cảm, sao cho nhẹ nhàng, linh hoạt.
Nắm vững kiến thức phương pháp dạy học, đảm bảo tính chính xác theo các hoạt động.
 Tận dụng mọi thời gian để tự rèn luyện mình, dù ở lớp hay ở nhà.
 - Giáo viên phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhận xét, của lãnh đạo nhà trường, bạn bè đồng nghiệp sau mỗi tiết dạy đúc rút kinh nghiệm, hạn chế những khuyết điểm mắc phải. 
Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường giáo dục “Lấy trẻ làm trung tâm” qua môn khám phá khoa học:
Việc xây dựng môi trường học tập và vui chơi đối với trẻ là vô cùng quan trọng nó không thể thiếu được. Chính vì hiểu được điều đó với cương vị là Hiệu Trưởng nhà trường ngay từ cuối năm học trước bước và tháng sáu trước khi tuyển sinh cho năm học mới tôi họp hội đồng mổ rộng cho ý kiến xây dựng cơ sở vật chất tạo cảnh quan môi trường cho năm học kế tiếp... từ đó tôi đã có kế hoạch xây dựng môi trường có tác dụng mạnh mẽ đối với trẻ, tạo cho trẻ hứng thú trong giờ học tập trẻ thích thú, khám phá được thế giới xung quanh.
Tôi chỉ đạo hai mảng rõ ràng môi trường bên trong và môi trường bên ngoài lớp học. Đối với lớp tôi xây dựng môi trường học tập cho trẻ. Cả hai môi trường này đều rất quan trọng đến việc dạy và học của cô và trẻ. Trẻ tham gia vào các hoạt động một cách hứng thú tùy thuộc vào môi trường mà trẻ đang ở đó, phù hợp với thực tế giáo viên đang dạy.
* Môi trường trong lớp học: 
Ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng các lớp điểm về các lĩnh vực khác nhau như lớp điểm về xây dựng môi trường học tập, lớp điểm về chuyên đề phát triển vận động, lớp điểm về các tiết dạy mẫu. Phân công cho phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, phân công giáo viên đứng các điểm trường ở các thôn, buôn sao cho phù hợp với tình hình thức tế của đơn vị. Giáo viên phải có năng lực chuyên môn giỏi, có uy tín với cha mẹ học sinh. Chọn lớp điểm để dự giờ đúc rút kinh nghiệm, trước khi chỉ đạo đại trà. 
Thông qua hình thức xây dựng lớp điểm, xây dựng tiết học khám phá khoa học trong môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, tạo môi trường học tập cho trẻ. Trẻ tự biết cách trang trí sắp xếp đồ dùng đồ chơi các góc, giáo viên biết thiết kế hoạt động theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm...
Môi trường giáo dục cho trẻ mầm non đề cập ở đây là hoàn cảnh sinh hoạt của trẻ - toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội nằm trong khuôn viên của trường mầm non, gồm hai bộ phận không thể tách rời, liên quan chặt chẽ và bổ sung lẫn nhau, đó là:
Môi trường vật chất: phòng nhóm/ lớp học, hành lang, sân vườn và trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
Ví dụ: Trong tiết dạy Khám phá khoa học, đề tài Thế giới động vật, hướng dẫn giáo viên làm các đồ dùng dạy học bằng vật liệu thiên nhiên sinh động, mang tính mở để trẻ khám phá về đề tài.
Hình ảnh: Đồ dùng đồ chơi tự tạo
	Môi trường tinh thần: bầu không khí, quan hệ xã hội, giao tiếp giữa trẻ với người lớn giáo viên, cha mẹ học sinh, giữa trẻ với nhau và giữa người lớn với nhau. 
Môi trường trong lớp học không thể thiếu những góc chơi của trẻ, do đó để lớp học thêm lôi cuốn trẻ, tôi đã chỉ đạo giáo viên cần tạo nên một môi trường trong lớp học với những màu sắc sinh động và ngộ nghĩnh. Môi trường có không gian, cách sắp xếp phù hợp, gần gũi, quen thuộc với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ; Khi thiết kế các góc hoạt động trong lớp cần chú ý bố trí các góc hoạt động hợp lí. Góc hoạt động cần yên tĩnh bố trí xa góc hoạt động ồn ào. Các góc hoạt động có “ranh giới” rõ ràng, có lối đi cho trẻ di chuyển thuận tiện khi liên kết giữa các góc chơi. Sắp xếp các góc để giáo viên có thể dễ dàng quan sát, giám sát được toàn bộ hoạt động của trẻ. Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu được thay đổi và bổ sung phù hợp với mục tiêu chủ đề, hoạt động và hứng thú của trẻ. Có nguyên vật liệu mang tính mở (lá cây, hột hạt), sản phẩm hoàn thiện, sản phẩm chưa hoàn thiệnCó sản phẩm mua sẵn, sản phẩm cô và trẻ tự làm, sản phẩm của địa phương đặc trưng văn hóa vùng miền.
Ví dụ: Làm sách tranh: Cô nên yêu cầu để trẻ chọn tranh và cắt sau đó cô giúp trẻ đóng các tờ tranh lại thành quyển hoặc sau khi trẻ vẽ tranh cô có thể giúp trẻ viết lại những ý tưởng của trẻ vào bức tranh mà trẻ vừa vẽ.
Trẻ tự làm: Một số tranh ảnh, đồ dùng đồ chơi quen thuộc cô có thể giao nhiệm vụ cho trẻ tự làm, khuyến khích trẻ có hứng thú làm và hiểu được ý nghĩa của công việc được giao.
Ví dụ: Làm đồ chơi các con vật tặng bạn, làm bưu thiếp tặng bạn, tặng mẹ... 
* Môi trường bên ngoài lớp học:
Thực tế ở trường tôi việc xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm, cơ sở vật chất chưa được hoàn thiện do trường mới thành lập, đồ dùng đồ chơi chưa phong phú. Sân chơi mới được tạo, cảnh quan môi trường còn nghèo nàn, chưa có đồ dùng phong phú. Sân thực hành còn chật hẹp. Vì vậy tôi đã tiến hành cho xây dựng môi trường trồng cây xanh, tạo vườn hoa cây cảnh, làm đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu đã qua sử dụng như lốp xe, thùng nhựa, vỏ chai các loại ...Để tạo cảnh quan môi trường sử dụng trong giờ học.
Xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non không chỉ ở trong nhóm, lớp mà phải được tiến hành ngoài khuôn viên trường học. 
Xây dựng môi trường chung trong trường mầm non bao gồm có: sân vườn, khối phòng phục vụ nhóm trẻ, lớp mẫu giáo (phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng vệ sinh, hiên chơi)sân, vườn: vườn hoa, vườn cây, luống rau, các con vật; hệ thống cung cấp nước sạch và thoát nước.
Môi trường vườn hoa cây cảnh các hệ thống đã được trang bị trong sân trường thực hiện theo từng chủ đề giáo viên phải biết tận dụng, khai thác, bổ sung các thiết bị, đồ dùng để tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ.
Vi dụ: Cổng trường trang trí các cảnh đẹp mắt, như nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, các cây , con vật các cây xanh có biển tên. Vào đến cửa lớp trang trí bảng tuyên truyên những nội dung bé học ở trong tuần, những thông tin cần thiết và thiết thực đang xảy ra: ví dụ: dịch mắt đỏ, cảm cúm, tiêu chảy ....
Sắp xếp, bố trí tạo khoảng không gian phù hợp cho các khu vực hoạt động ngoài trời dựa vào diện tích sân chơi dựa trên tổng diện tích của trường, giáo viên có thể quy định khoảng không gian hoạt động trong mỗi chủ đề cho trẻ ở các độ tuổi.
Tận dụng các loại cây xanh tạo bóng mát phổ biến có thực ở địa phương để trẻ dể nhận biết, màu sắc đa dạng và gần gũi với cuốc sống thực của trẻ.
Đồ chơi trong sân trường đa dạng: đu quay, cầu trượt, bập bênh, xích đuphù hợp với độ tuổi, vị trí. Ví dụ: trẻ nhà trẻ nên có đồ chơi riêng: cầu trượt đa năng, bập bênh, thú nhún, xe đạp đồ chơi được sắp xếp hợp lý, đảm bảo an toàn khi trẻ chơi.
Sân chơi nên bố trí đồ chơi hợp lý các hoạt động phát triển về thể chất, khám phá khoa học, làm những thí nghiệm đơn giản ( khu vực chơi với nước, với cát.), khu vực trồng rau, trồng cây hoatrẻ được tham gia lao động chăm sóc cây
* Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động khám phá khoa học:
Để tạo cho tiết học sinh động trong giờ hoạt động khám phá khoa học lấy trẻ làm trung tâm tôi chỉ đạo giáo viên thường xuyên tìm tòi từ những tạp chí, hoạ báo, vật thật ... những hình ảnh có màu sắc đẹp, hấp dẫn nhằm kích thích trẻ hoạt động tích cực hơn.
Hướng dẫn giáo viên cho trẻ được tiếp cận với vật thật nhiều hơn để trẻ được sờ, nếm, ngửi Đặc biệt thường xuyên dạy trẻ tiếp cận vật thật nhiều hơn để phát triển trí thông minh cho trẻ. 
Tổ chức cho giáo viên tự làm đồ dùng, đồ chơi đơn giản từ những phế liệu, phế thải dễ kiếm để trẻ tìm hiểu và biết thêm một số công việc xung quanh mình.
Ví dụ: Từ những vật liệu phế thải như vỏ chai nước các loại, hộp nhựa, vỏ hộp diêm  Sau đó tổ chức và hướng dẫn cho trẻ làm đoàn tàu, làm phích đựng nước ...
Thông qua những lúc làm đồ chơi trẻ biết yêu quí công việc và biết yêu quý những sản phẩm tự tay mình làm ra.
Hướng đẫn giáo viên xây dựng nhiều mô hình cho trẻ hoạt động đẹp mắt, hấp dẫn như mô hình trang trại có vườn, ao, chuồng hay mô hình vườn hoa của bé ... và đúng với thực tế. Bên cạnh đó cô giáo thường xuyên dạy và hướng trẻ nhập vai vào các môn học chủ yếu lấy trẻ làm trung tâm
Để chuẩn bị tốt cho hoạt động “Khám phá khoa học” trước hết giáo viên cần phải chuẩn bị đồ dùng dạy học đầy đủ, phong phú, hấp dẫn, sinh động và có liên quan đến nội dung của bài học như vật thật để cho trẻ được thấy, trẻ được sờ, mó, nếm, ngửi  và một số tranh ảnh có màu sắc đẹp, rõ, hấp dẫn gây được hứng thú cho trẻ.
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích thích hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường xuyên khuyến khích giáo viên sử dụng đồ thật, vật thật hoặc hình ảnh động cho tiết học.
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi xây dựng kế hoạch phân công cho phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn hướng dẫn cho giáo viên trang bị đồ dùng dạy học cho các lớp như: Bảng, tranh ảnh, áp pít có hình ảnh sinh động và xây dựng môi trường trong và ngoài lớp để trẻ có thể khám phá mọi lúc mọi nơi 
Giáo viên thường xuyên sưu tầm bài thơ, câu chuyện nói về hình ảnh minh họa xung quanh trẻ, những hình đó cho trẻ luyện đọc trao đổi với nhau và có chữ viết đi cùng. Vừa giúp trẻ củng cố hình ảnh vừa rèn luyện ngôn ngữ. Từ đó tư duy của trẻ cũng phát triển.
Trong giờ hoạt động “Khám phá khoa học” tôi chỉ đạo giáo viên thường xuyên tìm tòi từ những tạp chí, hoạ báo, vật thật ... những hình ảnh có màu sắc đẹp, hấp dẫn để tổ chức tốt trong giờ học nhằm giúp trẻ hoạt động tích cực hơn.
Giáo viên hướng dẫn cho trẻ được tiếp cận với vật thật nhiều hơn để trẻ được sờ, nếm, ngửi Đặc biệt thường xuyên cho trẻ tiếp cận nhiều hình ảnh trên thông tin hiện đại chúng. 
Giáo viên hướng dẫn cho trẻ tự làm những đồ dùng, đồ chơi đơn giản từ những phế liệu, phế thải dễ kiếm để trẻ tìm hiểu và biết thêm một số công việc xung quanh mình.
Ví dụ: Từ chủ đề “Thế giới thực vật” chuyển sang chủ đề “Thế giới động vật” có thể lưu thành tranh mảng tường tranh chủ đề với một số cây xanh, hàng rào, thảm cỏ có thể bổ sung thêm: mô hình chuồng các con vật, các con vật bằng chất liệu khác nhau: nhựa, vải, bông hoặc có thể kết hợp với gia đình để huy động cha mẹ học sinh đóng góp ủng hộ một số thức ăn cho con vật, sưu tầm một số tranh ảnh về các loài động vật hoặc mang đến lớp cho mượn một vài con vật thật như mèo, gà, thỏTân dụng các nguồn nguyên liệu, phế liệu.
Thông qua những hoạt động làm đồ chơi trẻ biết yêu quí công việc và biết yêu quý những sản phẩm tự tay mình làm ra.
Hướng đẫn giáo viên cho trẻ xây dựng nhiều mô hình hoạt động đẹp mắt, hấp dẫn như mô hình trang trại có vườn, ao, chuồng hay mô hình vườn hoa, rau của bé ... và đúng với thực tế. Bên cạnh đó cô giáo dạy lồng ghép nhiều hoạt động khác để giúp trẻ đỡ nhàm chán hơn.
Để chuẩn bị tốt cho hoạt động “Khám phá khoa học” trước hết giáo viên cần phải chuẩn bị đồ dùng dạy học đầy đủ, phong phú, hấp dẫn, sinh động và có liên quan đến nội dung của bài học như vật thật để cho trẻ được thấy, trẻ được sờ, mó, nếm, ngửi và một số tranh ảnh có màu sắc đẹp, rõ, hấp dẫn gây được hứng thú cho trẻ.
Đồ dùng của trẻ phải đa dạng phong phú, đẹp mắt nhằm lôi cuốn trẻ, kích thích vốn ham hiểu biết, thể hiện trí thông minh của trẻ, Thường xuyên khuyến khích giáo viên sử dụng đồ thật, vật thật hoặc hình ảnh động cho tiết học.
Tình hình thực tế ở từng điểm trường, đồ dùng trang thiết bị còn hạn hẹp, tôi lên kế hoạch mua sắm trang bị thiết bị phục vụ cho tiết học như: Bảng, tranh ảnh, lôtô ... và xây dựng môi trường trong và ngoài lớp để trẻ có thể khám phá mọi lúc mọi nơi trồng cây xanh phát triển thêm vườn hoa cây cảnh. 
Đối với cha mẹ học sinh vận động sưu tầm tranh, truyện, đặc biệt là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả, ... 
Đối với mỗi giáo viên phải biết tận dụng những nguyên vật liệu đã qua sử dụng như: vải vụn, cọng rơm khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy. Sưu tầm các loại hạt keo, các loại vỏ nghêu, ốc,... để bổ sung giá đồ chơi của trẻ. 
- Giáo viên sưu tầm nhiều bài thơ về môi trường xung quanh, sau đó dùng hình ảnh minh hoạ và có chữ viết đi cùng. Vừa giúp trẻ củng cố hình ảnh vừa để trẻ rèn luyện ngôn ngữ. Từ đó tư duy của trẻ cũng phát triển.
Biện pháp 4: Một số biện pháp giúp giáo viên hướng dẫn trẻ đạt kết quả tốt trong hoạt động khám phá khoa học và lồng ghép các hoạt động khác.
* Làm giàu vốn hiểu biết về môi trường xung quanh:
 Cho trẻ biết các biểu tượng về thế giới xung quanh đến với trẻ bằng nhiều hình thức như: Câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ, đồng dao, tranh ảnh, đồ vật, vật thật  giúp trẻ không bị nhàm chán, lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tượng của mình.
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với con gà
“Con gì có mào đỏ, có dáng cao cao, đuôi dài, ức đỏ
gáy ò ó o? đố bé là con gì?
- Trẻ đoán ngay được đó là con gà trống. Nhưng trong đầu trẻ biểu tượng về con gà trống được hiểu chính xác là con gà mào đỏ, đuuoi dài ,gáy ò ó o.
Ví dụ: Chiếc xe buýt
“Mình tôi dài rộng, có nhiều chỗ ngồi.
Muốn đi cùng tôi, phải vào đúng bến ”? đố bé là xe gì?
Trẻ đoán ngay được đó là xe buýt. Nhưng trẻ lại biết thêm xe buýt dài rộng, biết thêm luật muốn đi xe buýt là phải đúng bến
Từ đó trẻ có thể so sánh xem con gà và con các con khác hay các loại xe khác ... có đặc điểm gì giống nhau, có đặc điểm gì khác nhau? Sau đó trẻ có thể phân nhóm ... tùy vào từng độ tuổi đặc điểm nhận thức của trẻ.
Ngoài ra giáo viên dùng nhiều cách khác để cung cấp biểu tượng thế giới xung quanh cho trẻ, qua hình ảnh mô hình, vật thật 
* Giúp trẻ thích học, sáng tạo, ghi nhớ lâu trong tiết dạy:
Muốn cho tiết dạy “Khám phá khoa học” thì giáo viên phải nghiên cứu kỹ bài dạy, đồ dùng trực quan sinh động liên quan đến đề tài khám phá khoa học. Chuẩn bị đồ dùng cho ngày mai.
Ví dụ: Khám phá một số loại hoa giáo viên dặn trẻ quan sát ở nhà một số loại hoa có sẵn mang đến lớp để cả lớp cùng quan sát. Trong mỗi tiết dạy với mỗi tranh ảnh hay vật thật giáo viên cho trẻ quan sát kỹ, cho trẻ đưa ra nhiều ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm của vật quan sát.
Ví dụ: Làm quen với con mèo, trẻ đã tìm được đặc điểm của con mèo có hai mắt rất tinh, chân có móng vuốt Sau đó đặt câu hỏi gợi mở “đố các con biết vì sao con mèo lại trèo được cây?...
Như vậy không những trẻ biết được mèo có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trường sống của chúng, cách vận động, “Đi như thế nào ?” các bộ phận cơ thể ra sao. Nắm rõ đặc điểm trẻ quan sát dễ hơn, từ đó so sánh rất rõ ràng và phân loại cũng rất tốt.
Trong tiết dạy môi trường xung quanh tôi thường xuyên nhắc nhở giáo viên lồng ghép thích hợp các môn khác một cách nhẹ nhàng, lô rích như âm nhạc, tạo hình, văn học, toán để trẻ thêm hứng 

Tài liệu đính kèm:

  • docSKKN 17-18 ( VIEN).doc