Sáng kiến kinh nghiệm Thực trạng và một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống trong môn Đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học Lê Lợi

Sáng kiến kinh nghiệm Thực trạng và một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống trong môn Đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học Lê Lợi

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một nội dung được đông đảo phụ huynh

và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình hết sức cần thiết đối với học sinh.

Giúp cho học sinh có những ứng xử tích cực trong giao tiếp hàng ngày, có hành vi đạo

đức, lối sống lành mạnh.

Vậy làm thế nào để giúp nhà trường nói chung, giáo viên nói riêng hoàn thành tốt

nhiệm vụ của mình? Điều đó đã thôi thúc chúng tôi phải có những giải pháp hữu hiệu

để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cấp trên

giao phó.

Xuất phát từ thực tế đó, là một Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác chuyên môn,

tôi luôn trăn trở và mạnh dạn đề xuất với Hiệu trưởng đổi mới phương pháp dạy học,

tổng hợp các ý kiến của giáo viên đứng lớp, nghiên cứu và xây dựng các chuyên đề nâng

cao chất lượng dạy học nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung cho phù hợp với đối

tượng học sinh tại địa phương. Trong khuôn khổ cho phép của một bản sáng kiến kinh

nghiệm, tôi quyết định chọn “Thực trạng và một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống

trong môn Đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học Lê Lợi” làm đề tài nghiên cứu

của mình.

pdf 22 trang Người đăng phuongnguyen22 Ngày đăng 05/03/2022 Lượt xem 424Lượt tải 2 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Thực trạng và một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống trong môn Đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học Lê Lợi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ỗ trẻ cho nhà trường. 
Cũng có những gia đình có điều kiện kinh tế, quá chiều chuộng con dẫn đến trẻ thiếu sự 
sáng tạo, luôn ỷ lại, phụ thuộc vào người lớn; mỗi khi gặp các tình huống trong thực tế 
lúng túng không biết xử lý thế nào, hạn chế trong việc tự bảo vệ bản thân mình; hoặc có 
trẻ được chiều chỉ làm theo ý của mình chứ không làm theo ý người khác. Bên cạnh việc 
học các môn văn hoá nếu trẻ được chú ý giáo dục đạo đức, được rèn kĩ năng sống biết 
phân biệt cái tốt, cái xấu, biết từ chối cám dỗ, biết ứng xử, biết tự quyết định đúng trong 
một số tình huống thì chính trẻ sẽ là người tác động tốt đến gia đình, xã hội. 
Những năm gần đây, nhiều trẻ em rất thiếu kĩ năng làm việc nhà, kĩ năng tự phục 
vụ, kĩ năng giao tiếp với ông bà, cha m . Nhiều em không tự dọn d p phòng ở của chính 
mình, không giúp đỡ bố m bất kì việc gì ngoài việc học. Phụ huynh vì bận nhiều công 
việc nên ít quan tâm giúp đỡ con em trong các hoạt động cần thiết, làm cho các em rất rụt 
rè thiếu tự tin khi giao tiếp họăc tham gia các hoạt động bởi các em bị cuốn hút theo các 
trò chơi điện tử và hệ thống ảo trên hệ thống Internet. Đây là những trò chơi làm cho các 
em xa lánh với môi trường sống thực tế và thiếu sự tương tác giữa con người với con 
người, kĩ năng xã hội của học sinh ngày càng kém. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh 
trở nên ích kỉ, không quan tâm đến cộng đồng. Câu hỏi mà chúng ta thường đặt ra cho học 
sinh tiểu học là ngoài những kiến thức phổ thông được giảng dạy trong nhà trường, học 
sinh cần học điều gì để giúp các em hội nhập với xã hội, trở thành công dân có ích cho 
cộng đồng. Vì thế đây cũng là nỗi lo lắng, đặt ra cho giáo viên đứng lớp những suy nghĩ, 
trăn trở. 
III. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống trong môn Đạo đức cho học sinh ở trường 
Tiểu học Lê Lợi. 
 1) Thuận lợi, khó khăn: 
a) Thuận lợi 
 Trang 7 
Cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ, trang thiết bị dạy học bảo đảm tạo 
điều kiện cho hoạt động dạy và học. 
Ban Giám hiệu nhà trường năng động, sáng tạo trong công việc, luôn theo sát, 
quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục. 
Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, đa số giáo viên năng nổ, 
nhiệt tình trong công tác, có tâm huyết với nghề. 
Thường xuyên được tập huấn các chuyên đề về công tác chủ nhiệm, về giáo dục 
kĩ năng sống, phòng chống tai nạn, thương tích, đuối nước  do Sở, Phòng Giáo dục và 
Đào tạo, nhà trường tổ chức. 
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân 
thiện - học sinh tích cực” với những kế hoạch nhất quán từ Trung ương đến địa phương. 
Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng đã có kế hoạch từng năm học với những biện pháp cụ 
thể để rèn kĩ năng sống cho học sinh đối với từng cấp, bậc học. 
Đặc biệt là nhà trường đã có kế hoạch từng năm học với những biện pháp cụ thể 
để rèn kĩ năng sống cho học sinh một cách cụ thể cho các khối, lớp, đây chính là những 
định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kĩ năng ứng xử hợp lý với các tình 
huống trong cuộc sống, thói quen và kĩ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện 
sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kĩ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước 
và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kĩ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, 
phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. 
Bên cạnh đó, nhà trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên trong công 
tác giảng dạy cũng như giáo dục. Chính vì thế, mỗi giáo viên luôn cố gắng làm sao rèn 
cho các em có kĩ năng sống, giúp các em có một niềm tin, phát triển một cách toàn diện 
đức, trí, thể, mỹ để trở thành con người năng động, sáng tạo phù hợp với một xã hội hiện 
đại đang phát triển. 
Giáo viên chú trọng hơn trong việc giáo dục toàn diện nhân cách học sinh; mạnh 
dạn, tự tin điều khiển các cuộc họp phụ huynh; phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên 
với cha m các em. 
 Trang 8 
Nhà trường huy động được sự tham gia của cha m các em, của các tổ chức, các 
lực lượng xã hội trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống cho học sinh. 
Phụ huynh học sinh hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống 
cho con em, đã có sự phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục các em 
Lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn đã tổ chức tập huấn, dự giờ giúp đỡ giáo 
viên, tạo điều kiện để giáo viên học tập lẫn nhau. 
Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng, tổ chức nhiều hoạt động nhằm 
thu hút các em tham gia tích cực vào các phong trào, bồi dưỡng nhân cách kĩ năng cho 
học sinh. 
b) Khó khăn 
Một số giáo viên chưa thực sự nhạy bén, còn thụ động trong công tác giảng dạy, 
chưa có sự nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, ít quan tâm đến học sinh. Việc 
nhận thức tầm quan trọng, cần thiết rèn kĩ năng sống cho học sinh ở một số giáo viên 
còn hạn chế, còn mơ hồ. Một vài giáo viên chưa nắm được rèn kĩ năng sống cho học 
sinh là rèn những kĩ năng gì, vì thế không thể tìm ra được biện pháp, hình thức tổ chức 
hữu hiệu để giáo dục học sinh. 
Một số phụ huynh chưa hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục học sinh. Một 
vài phụ huynh giao tiếp trong gia đình còn nhiều hạn chế, xưng hô chưa chuẩn mực nên 
các em bắt chước và xưng hô thiếu thiện cảm. Phụ huynh học sinh chỉ khuyến khích các 
con học kiến thức mà quên hướng cho con em mình làm tốt hoạt động tập thể, hoạt động 
xã hội và cách ứng xử trong gia đình. 
Một số bố m học sinh quá nuông chiều con cái khiến trẻ không có kĩ năng tự 
phục vụ bản thân. Ngược lại, một số phụ huynh vì bận nhiều công việc nên ít quan tâm 
giúp đỡ con em trong các hoạt động cần thiết 
Một số em học sinh kĩ năng giao tiếp có phần hạn chế, chưa mạnh dạn bày tỏ ý 
kiến. Khi phát biểu các em nói không rõ ràng, trả lời trống không, không tròn câu và ít 
nói lời cảm ơn, xin lỗi với thầy cô, bạn bè. 
Nhiều em thiếu kĩ năng làm việc nhà, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp với ông 
bà, cha m . 
 Khảo sát vấn đề trước khi áp dụng biện pháp: 
 Trang 9 
 - Công tác giáo dục nhân cách toàn diện nói chung và giáo dục đạo đức cho HS : Một 
số em khi đánh giá về Phẩm chất, năng lực và kết quả học tập ở các môn học còn chưa 
đạt. 
- Về nhận thức: GV chưa hiểu biết sâu và chưa có kinh nghiệm về nội dung giáo dục kĩ 
năng sống; một số ít giáo viên giảng dạy chưa hào hứng,chưa nhiệt tình tham gia giảng 
dạy tích hợp kĩ năng sống vào môn học và vào các khối, lớp trong nhà trường. Trong 
bài soạn còn hình thức. 
- Các kĩ năng của học sinh như: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng phòng tránh tai nạn 
do thiên tai; kỹ năng ra quyết định; kỹ năng hợp tác, chia sẻ chưa được phát huy. Số ít 
học sinh chưa ý thức trong việc bảo vệ môi trường, các em chưa biết chia với các hoàn 
cảnh của bạn bè. Qua việc sinh hoạt hằng ngày trên lớp, trong giao tiếp, các em chưa sử 
dụng những lời nói thể hiện tính gần gũi, thân thiện, lịch sự. 
2) Phân tích, đánh giá chung thực trạng: 
Thường xuyên nhận được sự quan tâm của Lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, 
chỉ đạo sát sao và kiểm tra việc thực hiện các văn bản hướng dẫn của ngành. 
Bám sát nhiệm vụ năm học, nhà trường đã xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm, 
bố trí giáo viên nhiệt tình, tận tụy, có năng lực trực tiếp chủ nhiệm lớp. 
Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên dự giờ, kiểm tra việc thực hiện các 
chuyên đề, các nội dung lồng ghép, các hoạt động giáo dục kĩ năng sống ở các tiết dạy. 
Chương trình mà nhà trường đang áp dụng chủ yếu thực hiện đổi mới phương 
pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh (HS) làm trung tâm, học tập mang tính tương 
tác và phù hợp với từng cá nhân; chuyển việc truyền thụ của giáo viên thành việc hướng 
dẫn học sinh tự học. Lớp học được tổ chức theo các hình thức như: làm việc theo cặp, cá 
nhân và theo nhóm, trong đó hình thức học theo cặp là chủ yếu. Học sinh được học trong 
môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, 
thầy cô. Học sinh khá giỏi được phát huy, học sinh còn hạn chế, yếu kém được bạn bè 
trong nhóm và giáo viên giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp. 
IV. Các giải pháp thực hiện: 
 1. Hướng dẫn giáo viên nghiên cứu nội dung chương trình môn Đạo đức từng 
lớp ở trường Tiểu học Lê Lợi. 
 Trang 10 
 - Việc nghiên cứu kỹ chương trình giúp GV xác định đúng nội dung cần tích hợp 
vào dạy học môn Đạo đức lớp, trên cơ sở đó GV xác định đúng nội dung, phương pháp 
và phương tiện dạy học phù hợp để dạy tích hợp vào môn học. 
 - Mức độ tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng sống vào môn Đạo đức có thể là 
một phần của bài học, là liên hệ thực tế và vận dụng trực tiếp hoặc gián tiếp một phần 
kiến thức của bài nhằm tạo ra cơ hội thuận lợi cho HS thực hành, trải nghiệm. Mức độ 
tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng sống vào môn Đạo Đức được thể hiện ở các bài dạy 
song với các nội dung kĩ năng sống cụ thể khác nhau. 
 2. Khảo sát, nghiên cứu nhu cầu, nguyện vọng, khó khăn của GV khi dạy 
lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong môn Đạo đức. 
 Kết quả cho thấy chủ yếu nhu cầu và nguyện vọng của giáo viên là mong muốn 
được bồi dưỡng và tập huấn những kiến thức và kỹ năng cần thiết về kĩ năng sống phù 
hợp với môn học; là bồi dưỡng hoặc cung cấp tài liệu về nội dung này và biện pháp tổ 
chức các hoạt động để GD kĩ năng sống, là kỹ năng xác định mục tiêu, kĩ năng khai thác 
nội dung tích hợp và phương pháp, phương tiện dạy học để tích hợp, kỹ năng soạn giáo 
án tích hợpMong muốn được cung cấp hoặc tạo điều kiện để có những trang thiết bị, 
phương tiện dạy học hiện đại, và những đồ dùng dạy học đặc trưng của môn học. Nếu có 
thể tổ chức cho BGH và GV được tham quan học tập trong huyện, tỉnh những trường đã 
có kết quả tốt về giảng dạy tích hợp kĩ năng sống. 
 3. Hướng dẫn giáo viên lên kế hoạch lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong 
môn Đạo đức: 
- Bài giảng về cơ bản vẫn đảm bảo 5 bước là: ổn định tổ chức (khởi dộng), kiểm 
tra bài cũ, giới thiệu bài mới và giảng bài mới, luyện tập và củng cố, giao nhiệm vụ về 
nhà và dặn dò. 
- Kiến thức và kỹ năng về kĩ năng sống được tích hợp vào bài giảng môn Đạo đức 
cần hợp lý, tự nhiên, nh nhàng không ảnh hưởng tới nhận thức của HS và phải đạt tới 
mục tiêu của bài dạy. 
 - Trong bài giảng tích hợp, mục tiêu bài học môn Đạo đức với mục tiêu giáo dục 
kĩ năng sống phải gắn bó, kết hợp hài hòa, hòa quyện với nhau một cách thống nhất. Đó 
 Trang 11 
là mục tiêu kép: Mục tiêu cần đạt được ở HS của bài học môn Đạo đức. Các bước chuẩn 
bị: 
Bước 1. Giáo viên lựa chọn những kĩ năng cần thiết phù hợp với lứa tuổi học 
sinh. 
Chọn những kĩ năng phù hợp, gần gũi với học sinh, các em có khả năng trực tiếp 
thực hành kĩ năng sau khi tiếp cận . 
VD: Thực hành kĩ năng: Giao tiếp, ứng xử lịch sự, xưng hô đúng mực trong giao 
tiếp với bạn bè . 
Bước 2. Hướng dẫn học sinh dự đoán các kĩ năng, yêu cầu của các kĩ năng cần 
đạt sau khi học tiết học. 
 Đây là khâu chuẩn bị rất quan trọng đối với giáo viên và học sinh . 
 Học sinh đọc nội dung bài học, yêu cầu của bài học . 
Bước 3. Gợi ý học sinh nêu các kĩ năng thông qua bài học . 
 Giáo viên cho học sinh nêu các yêu cầu, kĩ năng sau khi đọc trước bài học. 
Bước 4. Hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu cần đạt sau bài học. 
 Tạo ra hứng thú, cảm xúc, lưu ý đó phải là cảm xúc riêng, thật, phải có sự liên 
tưởng, từ đó xác định những yêu cầu của kĩ năng cần đạt . 
Bước 5. Hướng dẫn học sinh tự xác định các kĩ năng sống cần đạt . 
 VD : 
- Bài yêu cầu gì ? 
 - Theo em cần phải làm gì để đạt được điều đó ? 
 - Trọng tâm bài ở chỗ nào ? 
 - Em cần có kĩ năng gì để thực hiện điều đó ? 
 - Sau khi học xong bài này em rút ra được điều gì ? 
 - Em sẽ ứng dụng như thế nào, làm gì trong cuộc sống hằng ngày khi gặp trường 
hợp như trong bài ? 
Bước 6. Giáo viên chuẩn bị giáo án lồng ghép . 
 Trang 12 
Giáo viên cần chuẩn bị một giáo án lồng ghép thật cẩn thận ( có nêu ra cụ thể các 
kĩ năng học sinh cần đạt khi học bài này, các kĩ năng dạy học sử dụng trong bài, các 
phương tiện cần thiết phục vụ cho tiết dạy  
Bước 7. Tổ chức thực hành. 
 Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành các kĩ năng vừa học ngay tại lớp với 
các tình huống tương tự như bài học để học sinh tụ tìm ra hướng giải quyết vấn đề, sau 
đó học sinh tự nêu các kĩ năng mà học sinh đã ứng dụng để giải quyết vấn đề đó. 
 Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể thực hiện trong bất cứ lúc nào, 
giờ học nào. Để việc rèn luyện diễn ra một cách thường xuyên và đạt hiệu quả cao bản 
thân đã vận dụng vào các môn học, tiết học, nhất là môn Đạo đức, để các chuẩn mực 
đạo đức, pháp luật xã hội trở thành tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của học 
sinh. Giáo viên phải sử dụng phương pháp dạy học đổi mới theo hướng phát huy tính 
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động 
học tập phong phú, đa dạng như: kể chuyện theo tranh; quan sát tranh ảnh, băng hình, 
tiểu phẩm; phân tích, xử lí tình huống; chơi trò chơi, đóng tiểu phẩm, múa hát, đọc thơ, 
vẽ tranh,Sử dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: học theo 
nhóm, đóng vai, trò chơi,Và chính thông qua việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật 
dạy học tích cực đó, học sinh đã được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm nhiều kĩ năng 
sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đó là lối sống lành mạnh, các hành vi ứng xử phù 
hợp với nền văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn gàng, ngăn nắp, nói lời đ p, 
chăm sóc bố m , ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ với bạn 
 4. Bồi dưỡng nhận thức về kĩ năng sống cho giáo viên: 
Giáo dục kĩ năng sống trong môn Đạo đức được hiểu là quá trình giảng dạy thực 
hiện phối kết hợp, đan xen hài hòa, hòa quyện một cách nhịp nhàng và hợp lý giữa kiến 
thức và kỹ năng về kĩ năng sống với kiến thức. Nội dung bồi dưỡng về kĩ năng sống cho 
GV để dạy tích hợp là các vấn đề cơ bản như: 
- Ý nghĩa và vai trò của giáo dục kĩ năng sống; 
- Khái niệm, nội dung cụ thể của kĩ năng sống trong môn Đạo đức dạy chính 
khóa. Những kĩ năng sống cơ bản được biên soạn lồng ghép trong các bài học ở tiểu học 
 Trang 13 
gồm: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tự bảo vệ, kĩ năng kiên định và kĩ 
năng từ chối, kĩ năng ứng phó với tình huống căng thẳng, kĩ năng quyết định, ... nhằm 
đạt mục tiêu cụ thể là sau khi được tham gia vào chương trình giáo dục ở trường tiểu 
học. 
- Mức độ tích hợp kĩ năng sống vào dạy học môn Đạo đức . Căn cứ vào nội dung 
bài học, có thể phân chia thành hai mức độ tích hợp là: 
+ Tích hợp bộ phận (là những bài có một phần kiến thức và kỹ năng trùng với 
kiến thức và kỹ năng của kĩ năng sống). 
+Tích hợp dưới dạng liên hệ thực tiễn (là những bài có một phần kiến thức có thể 
liên hệ thực tiễn với kĩ năng sống). 
- Lựa chọn các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học để sử 
dụng khi dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong môn Đạo Đức cho phù hợp như: 
Phương pháp Động não; Phương pháp Quan sát; Phương pháp Đóng vai; Phương pháp 
hợp tác theo nhóm nhỏ; Phương pháp Trò chơi học tập; .v.v.. 
 5. Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn và thí điểm dạy chuyên đề giáo dục kĩ năng 
sống trong môn Đạo đức 
 Việc trao đổi, quyết định dạy theo chuyên đề và chọn người dạy thí điểm chuyên 
đề được chúng tôi tiến hành kết hợp vào buổi sinh hoạt của tổ chuyên môn và buổi sinh 
hoạt chuyên đề của nhà trường. Khi thực hiện biện pháp này chúng tôi động viên, lấy 
tinh thần tự nguyện và nhiệt tình của GV để lựa chọn giáo viên lên tiết thí điểm. Để giúp 
GV lên tiết dạy thí điểm thuận lợi, chúng tôi quan tâm, giúp đỡ tài liệu, phương tiện, tài 
liệu và tư vấn những điều mà họ cần. Cá nhân GV tích cực soạn giáo án; nhận xét và 
góp ý cho giáo án có tích hợp kĩ năng sống. Sau đó GV bổ sung và hoàn thiện giáo án. 
 Sau đó tiết dạy thí điểm đã được tiến hành cho toàn bộ GV dự (có Ban giám hiệu). 
Cuối cùng là tổ chức nhận xét và rút kinh nghiệm để GV học tập, sau đó nhân rộng 
không chỉ trong khối mà trong toàn trường.(Thực hiện theo CV 708/SGD về đổi mới 
sinh hoạt chuyên môn theo NCBH) 
 6. Giáo dục học sinh thức lao động và vệ sinh môi trường trong nhà trường. 
 Trang 14 
Giáo dục học sinh thực hiện tốt tinh thần công văn 1014/SGDĐT - GDTH của Sở 
Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk về việc Hướng dẫn lao động và vệ sinh môi trường trong 
trường Tiểu học, thấy được ý nghĩa quan trọng của việc giáo dục học sinh tham gia lao 
động vệ sinh trường lớp và giữ gìn vệ sinh môi trường. 
Nhiệm vụ của mỗi nhà trường, của mỗi người giáo viên không chỉ dừng lại ở 
việc dạy chữ cho các em mà phải dạy cách làm người để giúp các em hình thành nhân 
cách sống, trong đó có kỹ năng lao động. Bằng nhận thức trong nhà trường, các em phải 
biết yêu lao động và tham gia một số công việc phù hợp với lứa tuổi như: vệ sinh cá 
nhân, vệ sinh trường lớp; làm một số việc nhỏ để giúp đỡ ông bà, cha m phù hợp với 
khả năng của mình. Tham gia lao động, vệ sinh sẽ giúp các em biết yêu quý công việc 
mình làm, giáo dục các em có ý thức xây dựng trường lớp, bảo vệ của công; tôn trọng và 
biết ơn người lao động, ông bà, cha m , thầy cô giáo những người đã ngày đêm vất vả 
để nuôi dạy các em nên người. Giáo dục các em tham gia các hoạt động lao động vệ sinh 
trường lớp tốt sẽ từng bước hình thành cho các em các thói quen chăm chỉ, tự giác trong 
lao động và các hoạt động tập thể như: nhặt rác, gom rác ở sân trường, lớp học, nơi công 
cộng bỏ rác đúng nơi quy định. Giáo dục các em từ những việc làm nhỏ nhặt như: vệ 
sinh, phong quang trường lớp, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh, lau chùi bàn ghế, vệ sinh 
đường làng ngõ xóm, vệ sinh cá nhân, ăn mặc gọn gànghàng ngày, hàng tuần, hàng 
tháng và trong cả quá trình học tập ở nhà trường để góp phần trong việc hình thành nhân 
cách cho các em, hình thành cho các em các kỹ năng sống cơ bản trong đó có kỹ năng: 
Lao động có kỷ luật, có kỹ thuật; kỹ năng sáng tạo, phát minh mới thông qua lao động, 
kỹ năng tôn trọng, kỹ năng tiết kiệm. 
 7. Tuyên truyền các bậc cha m thực hiện dạy các em các kĩ năng sống cơ bản: 
Trước hết, người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng 
với các em và đảm bảo an toàn cho các em. Tạo điều kiện tốt nhất cho các em vui chơi. 
Cô giáo, cha m luôn khuyến khích các em nói lên quan điểm của mình, nói 
chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình về cảm giác và về những lựa chọn 
của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thông số để theo đó mà lựa chọn, cố gắng 
không chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành kĩ năng tự kiểm soát 
bản thân, rèn luyện tính tự tin cho các em khi tham gia các hoạt động. 
 Trang 15 
Cô giáo, cha m cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách 
sử dụng các đồ dùng ăn uống; Cụ thể: Các em được làm quen với những đồ dùng, vật 
dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen 
nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ 
tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nh 
nhàng, dễ chịu tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành 
kĩ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. 
8. Kết hợp với Nhà trường- Gia đình – Xã hội tham gia giáo dục KNS cho HS. 
 Trong nhà trường: đó là toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh 
trong trường, trong lớp và tự bản thân em học sinh đó. Môi trường giáo dục kĩ năng 
sống cho các em là những giờ học trên lớp, giờ chơi, là HĐGDNGLL. 
 Trong gia đình: thì mọi người từ ông bà cha m đến anh chị em, con cháu đều 
có ảnh hưởng tích cực hoăc tiêu cực đến việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng sống 
cho các em. 
 Ngoài xã hội: Mọi đoàn thể, mọi cá nhân từ những người cao niên như Hội 
Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ,... đến lực lượng trẻ như Đoàn Thanh 
niên, Đội thiếu niên, các Câu lạc bộ,... ở địa phương đều có thể tham gia giáo dục thông 
qua các hoạt động xã hội hoặc bản thân người lớn nêu gương sáng về phong cách sống, 
về đạo đức cho các em rèn luyện no

Tài liệu đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_thuc_trang_va_mot_so_bien_phap_giao_du.pdf