Sáng kiến kinh nghiệm Luyện đọc cho học sinh tiểu học

Sáng kiến kinh nghiệm Luyện đọc cho học sinh tiểu học

Song song với việc kuyện ngắt nghỉ để đọc đúng câu, tôi còn giúp học sinh luyện đọc đúng ngữ điệu câu: Lên giọng ở câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cẩn diễn đạt trong câu. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc các bộ phận giải thích của câu

 Gặp những câu cầu khiến với lời đề nghị vội vàng, những câu hỏi tu từ thực chất là những câu khẳng định cần đọc với ngữ điệu xuống:

 

doc 11 trang Người đăng hungphat.hp Ngày đăng 22/11/2017 Lượt xem 1507Lượt tải 12 Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Luyện đọc cho học sinh tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đặt vấn đề
ở trường Tiểu học, môn Tiếng Việt chiếm thời gian và thời lượng nhiều nhất trong tất cả các môn học. Nó đảm nhận nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực ấy được thể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với chúng là 4 kỹ năng: Nghe, đọc, nói, viết. Đọc là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng của chương trình tiếng Việt. Nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc cho học sinh một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở những lớp đầu ở bậc Tiểu học.
Đọc là một chìa khoá giúp học sinh mở cửa, khám phá và tiếp thu kho tàng kiến thức của loài người, tìm hiểu những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, những tư tưởng tình cảm của con người. đấy cũng chính là hành trang giúp học sinh hoà nhập giao tiếp với cộng đồng, hình thành một nhân cách toàn diện, trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì biết đọc lại càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tin đối với mỗi học sinh đầu cấp Tiểu học, đầu tiên trẻ em phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học, đọc là công cụ để học tập các môn học, đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời, nó là khả năng không thể thiếu được của thời đại văn minh.
Năng lực đọc được hình thành qua thực hành, nó được tạo nên từ bốn kỹ năng bộ phận cũng là 4 yêu cầu về chất lượng của đọc: Đọc đúng, đọc nhanh, (đọc lưu loát, trôi chảy) đọc có ý thức (đọc hiểu và đọc hay) Bốn kỹ năng được hình thành trong 2 hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm, trong đó đọc thành tiếng là hình thức quan trọng hàng đầu, không thể thiếu trong quá trình luyện đọc.
B. Giải quyết vấn đề
I. Thực trạng hiện nay.
1) Về giáo viên.
	Qua việc dự giờ, tìm hiểu quá trình dạy tập đọc của chị em đồng nghiệp (trong trường và các trường lân cận) tôi nhận thấy nguyên nhân quan trọng nhất làm cho chất lượng dạy tập đọc chưa tốt cũng chính là những hạn chếa của giáo viên. Một số giáo viên của chúng ta vấn còn thiếu hụt các kĩ năng đọc, vì vậy không làm chủ được các kỹ năng dạy tập đọc, nhiều giáo viên đọc không đúng chính âm, đọc không hay, hiểu không đúng những điều được đọc từ cấp độ đến câu câu đoạn và cả nội dung, đích thông báo của toàn văn bản. Giáo viên ít nhiều cũng thiếu hụt các kỹ năng dạy học tập đọc, không làm chủ được các phương pháp, thủ pháp dạy học Tập đọc ở tiểu học. Một số giáo viên khôgn biết chưã các lỗi phát âm cho hcọ sinh, không có biện pháp luyệnc ho học sinh đọc to, đọc nhanh, đọc diễn cảm. Những hạn chế trên ảnh hưởng không nhỏ đến các giờ dạy về tập đọc.
2) Về học sinh:
	Năm học 2005 - 2006, tôi được phân công dạy lớp 3A. Nắm được tầm quan trọng của việc luyện đọc, dưới sự hướng dẫn giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, tôi đã tiến hành nghiên cứu và trực tiếp giúp học sinh thực hành luyện đọc thành tiếng để học sinh đọc được lưu loát , trôi chảy và đọc hay.
	Ngày đầu năm học, khi mới nhận lớp tôi đã tiến hành khảo sát để phân loại đối tượng học sinh. Tôi cho tất cả học sinh mỗi em, đọc cả 2 thể loại: Thơ và văn xuôi, tôi thấy hcọ sinh đọc văn xuôi khó hơn đọc thơ. Nhiều học sinh phát âm còn sai nhiều ở những tiếng có âm đầu: r, s, tr, 1, n, những tiếng có nguyên âm iê, uô những tiếng có thanh hỏi (?) ngã (~). Đặc biệt có các em ngắt nghỉ câu tuỳ tiện theo thói quen, chưa chuẩn, không thể hiện được cái hay của văn bản đọc. Vì vậy nội dung của bài không lột tả được, thậm chí do đọc chưa chuẩn dẫn đến học sinh trong lần khảo sát đầu năm như sau:
	* Tổng số học sinh: 28 em
	- đạt điểm giỏi: 2 em chiếm 7,2%
	- Đạt điểm khá: 8 em chiếm 28,5%
	- Đạt điểm trung bình: 14 em chiếm 50%
	- Đạt điểm yếu: 4 em chiếm 14,3%
	Kết quả khảo sát trên đã thôi thúc tôi cố gắng tự học, nghiên cứu, tìm tòi để hướng dẫn học sinh luyện tập bằng nhiều cách, giúp HS tự tin hơn, đọc tốt hơn.
II. Một số biện pháp tiến hành:
	Mục đích đọc thành tiến là chuyển đổi chính xác các kí hiệu văn tự thành các kí hiệu âm thanh. Vì vậy. Chất lượng của đọc thành tiếng được đo bằng 4 phẩm chất: Đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát), đọc có ý thức (thông hiểu nội dung văn bản) và đọc diễn cảm. Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài.
	Muốn học sinh đọc thành tiếng tốt, trước hết giáo viên phải đọc tốt. Theo tôi, người giáo viên không thể hình thành ở học sinh kỹ năng gì mà mình không có, không thể gặt hái được những gì mà chúng ta có khả năng gieo trồng. Chính vì vậy, để luyện đọc đúng, hay, tôi đã phải luyện tập tự quan sát, tự đánh giá cách nói, đọc của mình. Qua các buổi được ban giám hiệu và đồng nghiệp dự giờ, góp ý, tôi phát hiện ra các nhược điểm của mình để tự điều chỉnh, sửă chữa qua đó tôi cũng từ dự tính được các lỗi đọc mà học sinh mình dễ mắc phải. Và tôi thấy, giáo viên có giọng đọc mẫu tốt, hay, chuẩn chính là công cụ trực quan tốt nhất giúp học sinh luyện cho học sinh khi tiếp thu bài đọc. Song song với việc luyện cho mình giọng đọc mẫu tốt, tôi tiến hành luyện đọc thành tiếng cho học sinh theo các bước sau:
1) Chuẩn bị cho việc đọc:
	Để luyện đọc cho học sinh có hiệu quả trước tiên tôi giúp học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi học sinh phải ngồi ngay ngắn, khoảng cáhc từ mắt đến sách khoảng 30 - 35cm, cổ và đầu thẳng, thở chậm, sâu để lấy hơi. Khi đứng lên đọc phải bình tỉnh, tự tin đứng dạy không hấp tấp đọc ngay để có thời gian tạo tâm thế. Thỉnh thoảng, tôi gọi học sinh lên bảng đọc để đối diện với tất cả các bạn, tạo cho học sinh tự tin, đồng thời tôi sửa luôn tư thế đọc cho học sinh: vừa
đàng hoàng, thoải mái, sách mở rộng và cầm bằng hai tay.
	Đọc thành tiếng khác, đọc ở chỗ nó không chỉ là hoạt động tiếp nhận cho mình mà còn là hoạt động nhằm cho người khác tiếp nhận được văn bản giống mình. Khi đọc thành tiếng, học sinh phải hiểu rằng mình không chỉ đọc cho mình, cho cô giáo nghe mà còn phải đọc cho cả lớp cùng nghe. Vì vậy, luyện cho học sinh đọc to là bước tiếp theo tôi hướng dẫn cho học sinh khi luyện đọc thành tiếng. Muốn đọc to, học sinh phải biết cách nâng cao giọng hơn, biết cách ngắt hơi ở những chỗ ngắt nghỉ khi đọc. Nhưng đọc to không có nghĩa là đọc quá to và gào lên.
	Nếu học sinh đọc quá nhỏ, lý nhí, tôi tập cho các em đọc to chừng nào hạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi.
2) Luyện đọc đúng:
a) Đọc đúng phụ âm:
	Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng phải thể hiện đúng hình thức ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm, thanh (đúng các âm vị), nghỉ, ngắt hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu). Để luyện đọc đúng cho học sinh có hiệu quả, trước khi lên lớp, tôi thường đọc kỹ bài đọc, dự tính các lỗi học sinh hay mắc và phương án sửa lỗi, ưu tiên đối với các tiếng, từ khó, tôi giúp học sinh phân tích cấu tạo tiếng, tìm ra lỗi học sinh phát âm sai ở âm hay vần, thanh Tôi sẽ đọc mẫu các tiếng, từ này cho học sinh đọc theo. Nêúy học sinh vẫn đọc sai, tôi sẽ mô phỏng cách phát âm.
	Ví dụ:
	- Đọc đúng các phụ ân: r, s: Uốn đầu lưỡi về phía vòm hơi thoát ra rất mạnh. Gặp tiếng có âm tr: Đầu lưỡi uốn chạm vào vòm cứng, bật ra. Nếu đọc những tiếng có âm đầu lưỡi con lên chạm lợi, hơi đi ra phái hai bên rìa lưỡi xát khe
	- Đọc đúng các âm chính: Phải có ý thức phân biệt để không đọc “ưi tin” “mua riệu” “chấm múi” mà đọc “ưu tiên” mua rượu” “chấm muối”.
	- Khi đọc các tiếng có thanh hỏi thì thấp giọng, còn những tiếng có thanh ngã thì phải hơi lên giọng. Sau khi phân tích và mô phỏng cách phát âm tôi thấy học sinh phát âm chính xác hơn đúng hơn.
b) Đọc đúng chỗ ngắt giọng (Ngắt giọng lôgíc):
	Khi luyện đọc câu, tôi giúp học sinh dựa vào các dấu hiệu: Nhìn thấy trên văn bản có dấu chấm câu phải nghỉ hơi, dấu phẩy thì ngắt hơi. Dấu chấm lửng kéo dài hơn ngừng giọng sau dấu chấm, nghỏ hơi lây hơn hai lần so với chỗ ngừng sau dấu phẩy. Sau dấu chấm xuống dòng phải nghỉ lâu gấp đôi so với chỗ ngừng sau dấu chấm. Thời gian ngừng sau dấu phẩy không phải lúc nào cũng bằng nhau: Dấu phẩy phân cách hai vế của câu trong câu ghép đẳng lập ngừng lâu hơn và dấu phẩy sau trạng ngữ ngừng lâu hơn dấu phẩy phân cách các bộ phận đẳng lập.
	Ví dụ: Trong câu “Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiền mộc cuồn cuộc tràn theo bóng vòi ẩn hiệu của Hai bà. Tiếng trống đồng dội lên vòm cây, đập vào sườn đồi, theo suốt đường hành quân” (T.Việt 3 tập 2 - Trang 5). Chỗ ngừng sau dấu phẩy câu thứ 2 sẽ lâu hơn chỗ dừng sau dấu chấm phẩy câu thứ nhất. Đặc biệt dấy phẩy phân cách các bộ phận đẳng lập có tính chất liệt kê ngắn chỉ nên ngắt hơi nhẹ, ngắn, nếu không sẽ tạo ra cách đọc nhấn vào từng tiếng nghe rất không tự nhiên.
	Ví dụ: Không ngừng quá lâu sau dấu phẩy trong câu: “Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại bà Trưng, bà Triệu,trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung”(Lòng yêu nước của nhân dân ta - Tiếng việt 3 tập 2).
	Chỗ ngắt giọng phản ánh các quan hệ ngữ pháp này cpó lúc được biểu hiện trên chữ viết bằng các dấu câu nhưng có lúc không được biểu hiện gì trên chữ viết. Lúc này, muốn đọc đúng chỗ ngắt giọng phải dựa vào các quan hệ ngữ pháp, dựa vào nghĩa của câu.
	Vì vậy, trước khi dạy một bài tập đọc cụ thể tôi dự tính những chỗ học sinh
hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần ngắt giọng. Với bài văn xuôi, đó là những câu dài không có dấu phẩy hay những câu văn tuy không dài nhưng học sinh khó xác lập được các quan hệ ngữ pháp với bài thơ, học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa mà chỉ đạo theo áp lực của nhạc thơ. Dường như một cách tự nhiên, nếu không được lưu ý về nghĩa mà chỉ đạo theo áp lực nghĩa, học sinh sẽ ngắt nhịp tạo ra sự cân đối về mặt âm thanh đọc từng câu thơ. Với thơ chuyển tiếp, các em sẽ ngắt nhịp 2/2, với thơ 5 tiếng, các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2, với thơ 7 tiếng các em sẽ ngắt nhịp 3/4, 4/3 hoặc 2/2/3, thơ lục bát sẽ được ngắt theo nhịp chẵn 2/2/2. Gặp những trường hợp này, tôi phải kiên trì hướng dẫn học sinh thật sự thể cách ngắt nhịp.
	Ví dụ: Tôi hướng dẫn học sinh ngắt giọng các câu:
Tiếng suối/trong như tiếng hát xa”
	(Cảnh khuya - Tiếng Việt lớp 3 tập 2)
“Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con / ở rừng sâu mới về”
	 (Bộ đội về làng - Tiếng Việt lớp 3 tập 2)
Còn nếu để học sinh tự đọc, một số học sinh sẽ đọc sai thep áp lực của nhạc thơ:	 “Tiếng suối trong / như tiếng hát xa”
 “Vui đàn con ở / rừng sâu mới về”
	Khi đọc, tôi hướng dẫn để học sinh có thói quen không được tách một từ ra làm hai, ví dụ: Không ngắt hơi.
- Ca lô đội lệch
Mồm huýt / sáo vang
	Mà phải đọc:
- Ca lô đội lệch
Mồm/huýt sáo vang
	- Hôm ở chiến / trường về
	Mà phải đọc:
	- Hôm / ở chiến trường về
	(Chiếc võng của bố Tiếng Việt 3 tập 1)
	Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm, ví dụ: + Không đọc.
	- Như con / chim chích
	Nhảy trên đường vàng.
	Mà phải đọc:
	- Như / con chim chích
	Nhảy trên đường vàng.
	- Trăm cô/ gái tựa/ tiên sa
	Múa chày đôi với chày ba rập rịnh.
	+ Không tách giới từ với danh từ đi sau nó, ví dụ, không đọc:
	- Như con chim chích
	Nhảy trên/ đường vàng
	Trong các giờ tập đọc, tôi đều để học sinh tự tìm nhịp ngắt của các câu thơ, câu văn dài. Nếu gặp những câu khó, tôi sẽ đọc mẫu cho học sinh nghe và học sinh tự phát hiện chỗ ngắt nghỉ đúng trong các câu này. Sau đó học sinh đọc cá nhân, đọc đồng thanh từng câu. Cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh cả đoạn bài.
c) Đọc đúng kiểu câu:
	Song song với việc kuyện ngắt nghỉ để đọc đúng câu, tôi còn giúp học sinh luyện đọc đúng ngữ điệu câu: Lên giọng ở câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cẩn diễn đạt trong câu. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc các bộ phận giải thích của câu
	Gặp những câu cầu khiến với lời đề nghị vội vàng, những câu hỏi tu từ thực chất là những câu khẳng định cần đọc với ngữ điệu xuống:
	Ví dụ: 	Ai dã lên rừng cọ
	Giữa một buổi trưa hè?
	(Mặt trời xanh của tôi - Tiếng Việt lớp 3)
	Gặp những bộ phận giải thích trong câu phải đọc hạ giọng.
	Ví dụ: 
 “Cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”
(Nhớ lại buổi đầu đi học - Tiếng việt lớp 3 tập 3)
	Tuy nhiên tôi cũng lưu ý học sinh không nên cường điệu khi thể hiện ngữ điệu đọc (đọc quá mạnh, quá yếu, quá cao hay quá thấp) gây ra những chỗ gấp
khúc, gãy về đường nét âm thanh sẽ lệch không tự nhiên, không hợp với cảm xúc.
	Như vậy, luyện đọc đúng câu là một điều kiện tốt để học sinh tiếng tới đọc diễn cảm,
3) Luyện đọc nhanh:
	Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê, a, ngắt ngứ. Đọc nhanh thực sự có ích khi nó không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc. Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ nhanh không để cho người nghe hiểu kịp được. Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc luyến thoắng. Tốc độ chấp được của đọc nhanh thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói.
4) Luyện đọc diễn cảm:
	Đỉnh cao của việc đọc thành tiếng là đọc diễn cảm, nó thể hiện năng lực đọc ở trình độ và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện trên cơ sở hiểu thấu đáo bài học. Đọc diễn cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận giữ, trang nghiêm Phù hợp với ý cơ bản của bài học, phù hợp với kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết lên giọng ở trạng ngữ biểu cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng (ngắt giọng biểu cảm), làm chủ được tốc độ đọc, đọc nhanh, chậm, chỗ chân hay dãn nhịp đọc, làm chủ được cường độ đọc, (đọc to hay nhỏ, ngắt giọng hay không) và làm chủ ngữ điệu độ cao giọng đọc, lên giọng hay hạ giọng).	
	Khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm trước tiên tôi cho học sinh nắm ngữ đọc văn bản xác định giọng đọc chung của cả bài.
	- Ngay từ phần đọc tôi đã hướng dẫn, giúp học sinh cảm thụ sâu sắc nội dung bài giúp các em hoà cảm xúc của mình vài bài văn, phải hoá thân vào tác giả, vào nhân vật để suy nghĩ, suy cảm và truyền cảm đến người nghe. Ta cần hướng dẫn các em tạo cách đọc hay nhất. Muốn như vậy phải chú ý hướng dẫn học sinh:
	+ Ngắt giọng biểu cảm: Là ngắt giọng thiên về tình cảm, về sự dung động nội tâm mà không phụ thuộc vào dấu câu. Cách ngắt giọng này phụ thuộc vào suy
nghĩ trong tâm hồ người đọc.
	+ Chọn ngữ điệu đọc thích hợp: Tiếng việt có kho ngữ điệu vô cùng phong phú, đang dạng, ta cần vận dụng nó vài cách đọc truyền cảm bài văn, thơ, đó là sắc thái giọng đọc (vui, buồn, trag trọng, dịu dàng, nhẹ nhàng, hồn nhiên, ngây thơ). Đó là tốc độ đọc, cách ngắt giọng, độ nhanh, độ dài khi đọc Giọng đọc một văn bản công vụ, hành chính, một mẫu tên khác với giọng đọc một văn bản nghệ thuật. Khi đọc các văn bản Mỹ thuật, giọng đọc truyện khác với giọng đọc kịch, đọc thơ, giọng đọc một văn bản miêu tả khác giọng đọc một bài tường thuật
	Ví dụ: Khi đọc văn bản có nội dung miêu tả một công việc dồn dập, khẩn trương, sôi nổi phải đọc nhanh. Cảm xúc vui cùng đi với nhịp nhanh. Đoạn 2, đọc bài “hội đua voi ở tây Nguyên” (Tiếng Việt 3 - tập 2) phải đọc với nhịp điệu khác nhau nhưng đọc bài “Nhớ lại buổi đầu đi học” (Tiếng Việt 3 - Tập 1).
	- Một bài văn xuôi trữ tình, chứa chan cảm xúc cần phải đọc chậm, nhất là những câu “Tôi quên sao được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”.
 Cần chọn ngữ điệu thích hợp cho từng bài học để đạt hiệu quả khi đọc diễn cảm.
	Cần dùng nét mặt, ánh mắt, nụ cười Các yếu tố phi ngôn ngữ tác động đến người nge.
	Sau khi học sinh đã làm quen với văn bản, nhận ả thể loại văn bản, nội dung của bài, xác định được giọng đọc chung của cả bài của từng đoạn. Tôi thường đọc mẫu và cho học sinh nhận xét vì sau cô đọc như thế. Chỗ nào trong cách đọc của cô làm học sinh thích, sau đó tôi tiến hành cho học sinh luyện đọc diễn cảm với từng cá nhân học sinh (Với những văn bản truyện tôi cho học sinh phân vai để làm sống lại nhân vật của tác phẩm).
	Khi luyện đọc, tôi cho học sinh nhận xét giọng đọc của bạn, giải thích vì sao đọc như thế là hay, như thế là chưa hay. Thỉnh thoảng tôi trích ra một tổ cách đọc và cho học sinh nhận xét nhận ra giọng đọc đúng và hay nhất. Cứ như vậy dần dần học sinh của lớp tôi đã đọc tốt hơn.
	Ngoài ra để giúp học sinh luyện đọc thành tiếng đạt hiệu quả cao nhất, tôi nghĩ: Người giáo viên còn phải biết quan sát cách đọc của học sinh, có như vậy, cô giáo mới phát hiện ra chỗ nào học sinh đọc đúng chỗ nào đọc sai để tìm ra cách sửa chữa. Giáo viên không nên nhận xét chung mà phải nhận xét cụ thể giọng đọc của từng học sinh. Làm được như vậy thì kết quả luyện đọc cho học sinh mới đạt kết quả cao.
	Luyện đọc thành tiếng yêu cầu phải có thời gian thực hiện luyện tập lâu dài kiên trì. Vì thế tôi không chỉ tập luyện đọc thành tiếng cho học sinh trong các giờ tập đọc mà tôi lồng dạy đọc cho học sinh trong tất cả các môn học.
Ví dụ: Đọc đề các bài toán phải to, rõ ràng, ngắt nghỉ đúng thì người đọc và người nghe mới hiểu được yêu cầu của đề, đọc ghi nhới trong các giờ tự nhiên xã hội, sức khoẻ Đọc bài văn trong các giờ tập làm văn. Muốn trình bày một ý kiến, học sinh phải có thói quen những chạc, tự tin, nói to, dõng dạc để cả lớp cùng nghe. Như vậy tất cả học sinh lớp tôi đều có kỹ năng luyện đọc thành tiếng rất tốt.
III. Kết quả đạt được:
	Qua gần một năm học, với các biện pháp trên cùng với sự nỗ lực hết mình và sự giúp đỡ của BGH nhà trường tôi thu được kết quả luyện đọc cho học sinh như sau:
	- Đa số các em tự tin, chững chạc khi đọc, học sinh đọc đúng, lưu loát, không còn sai về các lỗi phát âm như đầu năm. Có thói quen ngắt ngỉ đúng câu. Đặc biệt nhiều học sinh đã đọc diễn cảm rất hat, tốt, đạt chuẩn.
	- Kết quả cụ thể: Qua lần kiểm tra định kỳ giữ kỳ II, tôi thu được kết quả đọc thành tiếng của học sinh lớp mình như sau:
	+ Số học sinh đạt điểm giỏi: 4 em chiếm 14,2%
	+ Số học sinh đạt điểm khá: 14 em chiếm 50%
	+ Số học sinh đạt điểm TB: 10 em chiếm 35,8%
	+ Số học sinh đạt điểm yếu: không có
C- Kết thúc vấn đề:
	- Giáo viên phải có giọng đọc mẫu chuẩn.
	- Biết quan sát cách đọc của học sinh, biết tái hiện lời đọc của học sinh đối chiếu với lời đọc mẫu để tìm ra lỗi và sửa.
	- Trước khi lên lớp phải dự tính trước các lỗi mà học sinh hay mắc về cách phát âm, ngắt nghỉ, từ đó đưa ra phương án đúng để chữa các lỗi sai.
	- Tạo cho giờ học nhẹ nhà, nhận xét giọng đọng của học sinh chính xácm tuyệt đối không phê phán gay gắt những học sinh đọc sai. Khen chê đúng lúc, kịp thời giúp học sinh tự tin, thoải mái khi luyện đọc.
	- Lồng luyện đọc cho học sinh trong tất cả các môn học, trong giao tiếp hàng ngày.
	Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình dạy luyện đọc thành tiếng cho học sinh lớp mình. Kính mong sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo, của anh chị em đồng nghiệp để tôi thực hiện tốt hơn biện pháp này trong quá trình giáo dục học sinh tiểu học - Chủ nhân tương lai của đất nước. Góp phần đáp ứng nhu cầu đổi mới nền giáo dục của đất nước, đấy mạnh “Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước”.
Ngày....thángnăm 2006
Người thực hiện
 Đoàn Trung dũng

Tài liệu đính kèm:

  • docsang kien kinh nghiem CHu' Dung~.doc