Lồng ghép trong phần hình thành kiến thức mới
Trong mỗi giờ học, phần hình thành kiến thức mới cho học sinh là một hoạt động trọng tâm, làm thế nào để giáo viên khơi gợi, hình thành được kiến thức cho học sinh nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao nhất. Việc lồng ghép các trò chơi trong hoạt động này sẽ giúp đạt được điều đó.
Ví dụ: Trò chơi “ Câu cá nước mặn”:
(Thực hiện trong tiết dạy bài : Từ trái nghĩa - Tiếng Việt 5 trang 38)
Mục tiêu: HS phân biệt được những từ mà không cùng thể loại, cấu tạo, không cùng từ loại.
Chuẩn bị: Các thẻ chữ có móc treo ở phía trên để tiện nhấc lên (Mỗi thẻ chữ là một chú cá và có tên là: bao la, mênh mông, bát ngát, thênh thang, chật hẹp). Chọn 2 đội chơi, mỗi đội gồm 3 bạn và chuẩn bị sẵn 2 chiếc cần câu cho mỗi đội để câu cá trong ao.
Từ khác nghĩa với các từ còn lại được xem là một chú cá nước mặn bị thả nhầm vào ao nước ngọt. HS trong đội chơi là những người cứu hộ, cần phải đưa chú cá nước mặn đó ra khỏi ao.
Tiến hành:
Mỗi đội chơi cử lần lượt từng người lên tham gia. Đội nào tìm ra được chú cá nước mặn trong ao và câu lên bờ nhanh nhất thì đội đó sẽ thắng cuộc (Để tăng sự hứng thú, trở ngại khi câu cá thì giáo viên có thể yêu cầu học sinh đứng một chân để câu).
Sau khi học sinh câu được chú cá “chật hẹp” lên bờ thì giáo viên hình thành cho học sinh tên của chú cá đó chính là từ có nghĩa trái ngược với các từ còn lại giúp tăng tính tò mò cho học sinh để học sinh dần hiểu được thế nào là từ trái nghĩa.
Trò chơi hình thành cho học sinh:
- Các năng lực: giao tiếp, hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề
- Các phẩm chất: đoàn kết, yêu thương; tự tin, trách nhiệm
1 tuần khảo sát thực tế tại lớp, tôi bắt đầu áp dụng vào ngày 14/09/2020. 5. Mô tả bản chất của giải pháp 5.1. Về nội dung của giải pháp Giải pháp 1: Xây dựng hệ thống trò chơi cần áp dụng Để lồng ghép một số trò chơi vào tiết dạy hiệu quả trước hết tôi lựa chọn và sưu tầm những trò chơi bổ ích đạt được những yêu cầu sau: - Trò chơi có tính vận dụng kiến thức trong bài học. - Hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất của học sinh. - Khi thực hiện phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. - Đảm bảo tính thời gian (mỗi trò chơi 5 - 7 phút) Việc học sinh xác định đúng và nêu được yêu cầu của bài tập là hết sức quan trọng và cần thiết, mục tiêu của bài tập là cơ sở để lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp. Có thể sử dụng kết hợp nhiều trò chơi khi giải quyết một bài tập. Tôi tiến hành thiết kế trò chơi rất rõ ràng về nội dung và hình thức (người chơi, cách chơi, đồ dùng hỗ trợ), nội dung thực hiện trò chơi phải phù hợp với bài tập trong chương trình học hoặc có thể bổ sung những nội dung mở rộng, cần củng cố, liên hệ, khắc sâu cho học sinh. Đồng thời thông qua đó rèn cho học sinh những kĩ năng cần và đủ để học sinh ghi nhớ và vận dụng kiến thức. Ví dụ một số trò chơi phù hợp với học sinh lớp 5 và phù hợp với phân môn Luyện từ và câu: Trò chơi “Thỏ tìm nhà”; “Nhanh lên bạn ơi”, “truyền điện”; “ô chữ kì diệu”,... Hình thức lồng ghép thì tôi căn cứ vào nội dung bài học, mục tiêu bài học và khoảng thời gian cho phép để tiến hành một cách bài bản vừa giúp các em phát triển phẩm chất năng lực vừa đảm bản yêu cầu mục tiêu bài học cũng như thời gian tiết học. Giải pháp 2: Lồng ghép một số trò chơi trong từng hoạt động của phân môn Luyện từ và câu nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh. a. Lồng ghép trong hoạt động khởi động. Khởi động là một hoạt động ở đầu mỗi tiết học. Tạo không khí vui tươi trước khi truyền tải đến các em những nội dung kiến thức mới. Hoạt động này giáo viên giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, hiểu biết đã có nhằm tái hiện lại nội dung liên quan để kết nối với mạch kiến thức của bài học. Ví dụ: Trò chơi “Ghép đôi” (Thực hiện trong tiết dạy bài: Luyện tập về từ trái nghĩa - Tiếng Việt 5 trang 44) Mục tiêu: Học sinh hiểu nghĩa của từ, ghép đúng các cặp từ trái nghĩa. Qua đó, rèn sự nhanh nhẹn cho học sinh. nhanh cao nóng ngắn dài lạnh đêm ghét yêu chê dưới khen ngày trên Chuẩn bị: Thẻ từ chậm thấp Tiến hành: Giáo viên phát cho học sinh 1 thẻ từ cầm trên tay. Khi có hiệu lệnh “Ghép đôi” từng bạn sẽ phải nhanh chân chạy đi tìm người bạn của mình để “Ghép đôi”. Cặp nào ghép nhanh nhất và đúng cặp từ trái nghĩa thì sẽ thắng cuộc. Bạn nào không tìm ra được người bạn của mình hoặc ghép đôi mà 2 từ đó không phải là cặp từ trái nghĩa sẽ thua cuộc và chịu phạt nhảy lò cò 1 vòng quanh lớp. Ví dụ: bạn có thẻ từ “ngắn” sẽ ghép đôi với bạn có thẻ từ “dài” để tạo thành cặp từ trái nghĩa. Các năng lực, phẩm chất được hình thành qua trò chơi: - Năng lực: Giao tiếp, hợp tác; Tự phục vụ, tự quản - Phẩm chất: Tự tin, trách nhiệm; đoàn kết, yêu thương b. Lồng ghép trong phần hình thành kiến thức mới Trong mỗi giờ học, phần hình thành kiến thức mới cho học sinh là một hoạt động trọng tâm, làm thế nào để giáo viên khơi gợi, hình thành được kiến thức cho học sinh nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao nhất. Việc lồng ghép các trò chơi trong hoạt động này sẽ giúp đạt được điều đó. Ví dụ: Trò chơi “ Câu cá nước mặn”: (Thực hiện trong tiết dạy bài : Từ trái nghĩa - Tiếng Việt 5 trang 38) Mục tiêu: HS phân biệt được những từ mà không cùng thể loại, cấu tạo, không cùng từ loại. Chuẩn bị: Các thẻ chữ có móc treo ở phía trên để tiện nhấc lên (Mỗi thẻ chữ là một chú cá và có tên là: bao la, mênh mông, bát ngát, thênh thang, chật hẹp). Chọn 2 đội chơi, mỗi đội gồm 3 bạn và chuẩn bị sẵn 2 chiếc cần câu cho mỗi đội để câu cá trong ao. Từ khác nghĩa với các từ còn lại được xem là một chú cá nước mặn bị thả nhầm vào ao nước ngọt. HS trong đội chơi là những người cứu hộ, cần phải đưa chú cá nước mặn đó ra khỏi ao. Tiến hành: Mỗi đội chơi cử lần lượt từng người lên tham gia. Đội nào tìm ra được chú cá nước mặn trong ao và câu lên bờ nhanh nhất thì đội đó sẽ thắng cuộc (Để tăng sự hứng thú, trở ngại khi câu cá thì giáo viên có thể yêu cầu học sinh đứng một chân để câu). Sau khi học sinh câu được chú cá “chật hẹp” lên bờ thì giáo viên hình thành cho học sinh tên của chú cá đó chính là từ có nghĩa trái ngược với các từ còn lại giúp tăng tính tò mò cho học sinh để học sinh dần hiểu được thế nào là từ trái nghĩa. Trò chơi hình thành cho học sinh: - Các năng lực: giao tiếp, hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề - Các phẩm chất: đoàn kết, yêu thương; tự tin, trách nhiệm c. Lồng ghép trong phần củng cố kiến thức bài học. Trong mỗi giờ học không thể thiếu hoạt động củng cố nhằm khắc sâu, mở rộng, liên hệ kiến thức bài học. Qua trò chơi sẽ giúp các em nhớ kĩ, nhớ lâu, vận dụng kiến thức bài học một cách dễ dàng. Ví dụ: Trò chơi “Thỏ tìm nhà’’ (Thực hiện dạy bài Luyện từ và câu: Ôn tập về từ loại - Tiếng Việt 5 trang 142) Mục tiêu: Giúp học sinh củng cố về các từ loại và vai trò của các từ loại trong câu. Mở rộng vốn từ. Chuẩn bị : Các thẻ chữ (mỗi thẻ ghi 1 tiếng hoặc 1 từ) Trả lời nhìn Vịn Xa Qua Hắt Với Thấy Thấy ở Lớn lăn trào đón Bỏ Tiến hành: Giáo viên phát cho mỗi học sinh 2 thẻ chữ có ghi sẵn các từ ở trên. Chuẩn bị sẵn vị trí của 3 ngôi nhà treo lên bảng. Mỗi ngôi nhà có tên gọi lần lượt là: động từ, tính từ, quan hệ từ. Cả lớp hát vang một bài hát. Khi lời bài hát kết thúc, bạn quản trò hô “trời mưa, trời mưa”, học sinh được giao thẻ trên tay chạy nhanh chân tìm đến ngôi nhà của mình để trú mưa. Đội nào có nhiều bạn về đúng nhà của mình nhất sẽ thắng cuộc Trò chơi hình thành cho học sinh: - Các năng lực: giao tiếp, hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề - Các phẩm chất: đoàn kết, yêu thương; tự tin, trách nhiệm Giải pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức trò chơi học tập cho học sinh. Ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu đổi mới trong dạy học là điều vô cùng quan trọng và cần thiết. Nó giúp bài giảng của giáo viên trở nên sinh động và hấp dẫn hơn, thu hút sự tập trung chú ý của học sinh vào bài dạy. Qua đó nâng cao được chất lượng dạy và học. Bên cạnh việc vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tôi còn mạnh dạn đưa ra 1 số những trò chơi học tập có sử dụng công nghệ thông tin tạo nên tính hiệu quả của trò chơi, gây hứng thú mạnh cho học sinh. Ví dụ: Trò chơi “Ô chữ kì diệu” (Thực hiện trong tiết dạy bài Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Bảo vệ môi trường - Tiếng Việt 5 trang 126) Mục tiêu: Qua hoạt động trò chơi giúp học sinh có ý thức bảo vệ môi trường bằng những việc làm cụ thể như: trồng cây gây rừng, tuyên truyền mọi người cùng chung tay bảo vệ môi trường,.... Chuẩn bị: GV chuẩn bị nội dung câu hỏi phù hợp liên quan đến nội dung bài Dòng 1: Người ta thường ví rừng với hình ảnh này (10 chữ cái) Dòng 2: Một phong trào được tổ chức vào mùa xuân, do Bác Hồ khởi xướng (11 chữ) Dòng 3: Vì lợi ích ..... trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người (7 chữ cái) Dòng 4: Trẻ em như .... Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan (11 chữ cái) Dòng 5: Một hoạt động hằng ngày em vẫn làm để giữ lớp luôn sạch đẹp (15 chữ cái) Dòng 6: Một trong những hành động của chúng ta để giúp mọi người hiểu hơn một giải pháp hay chủ trương nào đó... (11 chữ cái) L Á P H Ổ I X A N H Dòng 1: T Ế T T R Ồ N G C Â Y Dòng 2: M Ư Ờ I N Ă M Dòng 3: B Ú P T R Ê N C À N H Dòng 4: V Ệ S I N H T R Ư Ờ N G L Ớ P Dòng 5: T U Y Ê N T R U Y Ề N Dòng 6: G B Ư R Ô M Ệ I N O T V Ờ Ả Tiến hành: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi theo hình thức rung chuông, thi đua giữa các tổ,... lần lượt chọn từng câu hỏi rồi đưa ra đáp án. Đội nào giải được nhiều câu đúng là đội thắng cuộc. Trò chơi hình thành cho học sinh: - Các năng lực: giao tiếp, hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề - Các phẩm chất: đoàn kết, yêu thương; tự tin, trách nhiệm 5.2. Về khả năng áp dụng của giải pháp Các giải pháp “Lồng ghép một số trò chơi vào phân môn Luyện từ và câu lớp 5 để dạy học theo hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh” mà tôi đã nêu ở trên có thể áp dụng cho tất cả các lớp 5 trong trường, các trường Tiểu học trong toàn Huyện, toàn Tỉnh thậm chí toàn quốc, vì ưu điểm vượt trội của nó là: Giúp cho học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, tích cực. Qua trò chơi các em được thể hiện mình, được phát huy hết khả năng vốn có; các em được học mà chơi, chơi mà học. Nhờ vậy mà trong quá trình học các em sẽ đóng vai trò là trung tâm, phát triển tốt những phẩm chất năng lực cần thiết. 6. Những thông tin cần được bảo mật (Nếu có) Đề tài được bảo mật toàn bộ nội dung đến khi được Hội đồng khoa học cấp cao nhất của hội thi chấm và công bố kết quả. 7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp: Để đề tài được triển khai áp dụng một cách có hiệu quả thì cần có những điều kiện sau: - Nhà trường cần tạo điều kiện về không gian, thời gian để giáo viên vận dụng linh hoạt nội dung của biện pháp vào trong các tiết học của phân môn Luyện từ và câu. - Công nghệ thông tin của nhà trường cần hỗ trợ về cơ sở vật chất liên quan đến dạy học bằng bài giảng trình chiếu của giáo viên. - Phụ huynh cần phối hợp chặt chẽ với giáo viên trong quá trình con, em tham gia học tại lớp để có những giải quyết kịp thời và phù hợp với những biểu hiện bất thường của các em. 8. Đánh giá lợi ích thu được của các giải pháp Khi dạy học phân môn Luyện từ và câu có sử dụng các trò chơi học tập ở lớp 5, không khí trong những giờ học trở nên sôi nổi, tích cực hơn, học sinh chăm chú nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, các em học sinh chuyển từ thụ động sang chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hứng thú với những hình thức học tập mới lạ. Ngoài ra những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp của các em tiến bộ hơn. Những học sinh có năng lực, phẩm chất tốt thì ngày càng tự tin, năng động, có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập còn những học sinh thụ động, họ
Tài liệu đính kèm: