Đề tài Một số kinh nghiệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua cụm văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 9

Đề tài Một số kinh nghiệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua cụm văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 9

Một số giáo viên chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, dạy học còn mang nặng cách dạy truyền thống truyền thụ kiến thức mà chưa chú ý

đến phát triển năng lực ở học sinh.

- Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho việc học còn ít. Một số phụ

huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái. Họ còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”.

- Nhiều gia đình học sinh chưa có máy tính, một số học sinh việc khai thác nguồn thông tin trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế.

- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học.

2.2. Thành công- hạn chế.

- Thành công: Dạy học phát triển năng lực học sinh sẽ tạo được nhiều cơ hội hơn cho học sinh thể hiện mình. Với mỗi hoạt động học sinh sẽ nhận thấy vai trò, vị trí của cá nhân trong tập thể, từ đó các em sẽ tự tin và cố gắng hơn trong quá trình học tập. Phương pháp này sẽ kích thích được mọi học sinh tích cực làm việc đặc biệt là những học sinh yếu bởi chính những học sinh này sẽ được giáo viên và các bạn cùng nhóm để ý đến nhiều hơn.

 

doc 23 trang Người đăng honghanh96 Ngày đăng 30/10/2018 Lượt xem 323Lượt tải 5 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Một số kinh nghiệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua cụm văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tính chất thực tiễn, từ nội dung mà các bản đề cập giúp học sinh hình thành được những quan điểm đúng đắn, hành động cụ thể phù hợp với xu thế phát triển của đất nước ở hiện tại và trong tương lai.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, qua nhiều năm, tôi thấy việc dạy – học các văn bản nhật dụng trong chương trình tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh. Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau: 
- Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều những cảm nhận của giáo viên về văn bản. Nhìn chung vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn là
 hình thành kỹ năng.
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống một cách cứng nhắc. Chưa làm cho học sinh huy động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực để giải quyết các nhiệm vụ học tập. Việc tích hợp nội môn và tích hợp liên môn chưa thực sự hiệu quả, chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinh chưa được phát triển.
- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang tính hình thức. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón
nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.
- Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chú trọng. Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết, việc xử lí tình huống giả định, trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy mà học sinh ít có cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hững thú, chưa hình thành được các kỹ năng và năng lực của người học.
Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi cách thức tổ chức giờ học song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà nguyên nhân là:
+ Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều. Bên cạnh đó việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng hạn chế - một phần là do kỹ năng sử dụng máy chiếu hay bảng thông minh của họ hạn chế, vì vậy
họ ngại áp dụng vì mất thời gian.
+ Về phía học sinh: Học sinh ở trường THCS Lê Văn Tám chủ yếu là học sinh vùng nông thôn nên việc tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học.
+ Cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là CNTT bị xuống cấp dẫn đến không đáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học. 
Yêu cầu đặt ra là phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở người học để sau mỗi bài dạy – học học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà còn phải phát triển được năng lực bản thân , có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về đổi mới giáo dục. 
2.1. Thuận lợi- khó khăn.
* Thuận lợi:
-Các hoạt động chuyên môn của nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo huyện Krông Ana.
-Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá được lãnh đạo nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách tích cực, có hệ thống, bám sát
 chủ trương đổi mới nền giáo dục của Đảng và nhà nước. 
-Đội ngũ giáo viên trẻ khỏe và có trình độ chuyên môn vững, được đào tạo trên chuẩn và đã được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn do Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức hàng năm.
-Đa số học sinh học tập tích cực và có sự hợp tác chặt chẽ với giáo viên trong quá trình dạy – học.
-Cơ sở vật chất được đầu tư: Mạng, máy tính, máy chiếu được trang bị phục vụ dạy học, học sinh được trang bị kiến thức về vi tính để khai thác thông tin trên mạng Internet.
* Khó khăn:
- Một số giáo viên chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, dạy học còn mang nặng cách dạy truyền thống truyền thụ kiến thức mà chưa chú ý 
đến phát triển năng lực ở học sinh.
- Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho việc học còn ít. Một số phụ 
huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái. Họ còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”.
- Nhiều gia đình học sinh chưa có máy tính, một số học sinh việc khai thác nguồn thông tin trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế. 
- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học. 
2.2. Thành công- hạn chế.
- Thành công: Dạy học phát triển năng lực học sinh sẽ tạo được nhiều cơ hội hơn cho học sinh thể hiện mình. Với mỗi hoạt động học sinh sẽ nhận thấy vai trò, vị trí của cá nhân trong tập thể, từ đó các em sẽ tự tin và cố gắng hơn trong quá trình học tập. Phương pháp này sẽ kích thích được mọi học sinh tích cực làm việc đặc biệt là những học sinh yếu bởi chính những học sinh này sẽ được giáo viên và các bạn cùng nhóm để ý đến nhiều hơn. 
 Khi phát triển được các năng lực trong quá trình học tập tức là học sinh thấy rõ vai trò vị trí của mình, từ đó sẽ biết nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ, biết hành động vì người khác và đó chính là một cách để hoàn thiện nhân cách người học sinh
- Hạn chế: Để thực hiện phương pháp dạy học này người giáo viên cần mất nhiều
thời gian hơn để chuẩn bị cho một tiết học. Giáo viên phải sử dụng tốt một số phần mềm ứng dụng hỗ trợ trong dạy học (Kỹ năng ứng dụng CNTT)
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu.
Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh có nhiều điểm mạnh sau đây:
Thứ nhất là giáo viên dễ dàng hơn trong việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực, dễ dàng hơn trong việc triển khai các đơn vị kiến thức. Việc ứng dụng CNTT sẽ làm cho tiết học trở nên hấp dẫn, cuốn hút học sinh hơn.
Thứ hai là học sinh được thực hành, luyện tập nhiều hơn. Việc luyện tập không chỉ thực hiện trên lớp mà còn có thể luyện tập áp dụng kiến thức, mở rộng liên hệ trong cuộc sống đời thường. Mặt khác việc luyện tập mang tính liên tục và có hệ thống.
Thứ ba là qua cách thức tổ chức tiết học bằng các phương pháp làm việc nhóm thì học sinh sẽ tạo được mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm và trong lớp, đồng thời khả năng hợp tác giải quyết vấn đề sẽ được nâng cao. 
Mặt yếu: Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực bắt buộc cả giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, học sinh phải chủ động và tích cực hợp tác trong mọi hoạt động nếu không tiết học dễ dẫn đến nhàm chán. 
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động..
- Giáo viên chưa thực hiện đổi mới phương pháp dạy học một cách triệt để.
- Một số phương tiện CNTT hỗ trợ dạy học đã bị xuống cấp, việc khai thác thông tin chưa hiệu quả.
- Đối tượng học sinh là vùng nông thôn nên thời gian các em dành cho việc học ở nhà chưa được như yêu cầu vì còn phải đi làm giúp bố mẹ.
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đặt ra.
Trước yêu cầu đổi mới một cách căn bản và toàn diện của nền giáo dục để phù hợp với xu thế hội nhập, yêu cầu giáo viên phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận trong việc lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng như thay đổi cách đánh giá học sinh – dạy học gắn với phát triển năng lực. Muốn làm được điều đó trước hết người giáo viên phải có sự thay đổi trong
cách tiếp cận, phải giúp cho học sinh làm chủ quá trình học tập.
Đổi mới về phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng. Kết hợp tốt các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học tích cực. 
Đổi mới về cách thức tổ chức giờ dạy, học sinh phải được hoạt động, được thể hiện mình chứ không phải là việc giáo viên cứ “ra rả” giảng, bình còn học sinh thì cứ như “đàn gảy tai trâu”.
Một trong những mục đích cần hướng đến khi dạy học văn bản nhật dụng là học sinh phải nhận thức được vấn đề được nói đến nó đã và đang diễn ra như thế nào, mỗi người cần phải làm gì và làm như thế nào để giải quyết vấn đề đặt ra một cách phù hợp. Ứng dụng CNTT là điền kiện tốt để giáo viên thể hiện phương pháp dạy học tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu đó. Học sinh không chỉ được nghe, được biết mà còn phải được thấy. Có như vậy học sinh mới có thể có những rung cảm, có cách nhìn cách đánh giá vấn đề mang tính nhân văn. Ví dụ: Khi dạy bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, giáo viên có thể cho học sinh quan sát bức ảnh của tác giả Nick Ut về người di cư và cậu bé 3 tuổi người Syria bị thiệt mạng trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ (năm 2015). Qua đó học sinh sẽ có quan điểm đánh giá thực tiễn hơn và chắc chắn sẽ là sự đồng cảm với những người là nạn nhân của chiến tranh, tố cáo tội ác của chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Việc ứng dụng CNTT được xem là điều kiện tốt nhất để kích thích học sinh học tập. Mặt khác sẽ giúp cho giáo viên triển khai nội dung bài học một cách dễ dàng hơn. 
3. Giải pháp, biện pháp.
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
- Các giải pháp được nêu ra nhằm giúp giáo viên có được cách tổ chức giờ học, lựa chọn những phương pháp dạy học cũng như việc ứng dụng CNTT phù hợp trong quá trình dạy học phần văn bản nhật dụng lớp 9 từ đó kích thích khả năng tư duy, tìm tòi và liên hệ vấn đề với thực tiễn cuộc sống.
- Nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần hoàn thiện nhân cách ở học sinh.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Các phương pháp dạy học
truyền thống như thuyết trình, đàm thoại luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích  trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh .
Giải pháp 1: Làm tốt khâu chuẩn bị cho bài dạy.
+ Chuẩn bị kiến thức dạy học:
Do yêu cầu mở rộng hiểu biết để thấm thía các chủ đề nhật dụng đặt ra trong
từng văn bản, từ đó tăng cường ý thức công dân của mỗi học sinh đã khiến việc chuẩn bị kiến thức hỗ trợ cho bài học văn bản nhật dụng mang một ý nghĩa tích hợp rộng hơn, đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn của cả hai chủ thể dạy và học văn bản nhật dụng. Yêu cầu đó sẽ là giáo viên thu thập, giao cho các nhóm HS cùng sưu tầm các tư liệu ngoài văn bản liên quan đến chủ đề văn bản trên các nguồn thông tin đại chúng ( phát thanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh, âm nhạc...) làm chất liệu cho dạy học văn bản nhật dụng gắn kết với đời sống.
+ Chuẩn bị phương tiện dạy học:
 Yêu cầu truyền thông cập nhật của các chủ đề nhật dụng đòi hỏi các phương pháp dạy học đáp ứng cung cấp và khai thác thông tin nhanh và phong phú tới người học. SGK, bảng đen, phấn trắng, bảng phụ, tranh ảnh minh hoạ các phương tiện dạy học truyền thống ấy là cần thiết nhưng chưa thể đáp ứng hết các yêu cầu dạy học văn bản nhật dụng theo tinh thần nói trên. Ở đây hệ thống tư liệu bồi đắp trực tiếp cho chủ đề văn bản nhật dụng và mở rộng chủ đề đó bên ngoài văn bản ( báo chí, mĩ thuật, điện ảnh) và những câu hỏi trắc nghiệm nếu được thu thập, thiết kế và trình chiếu trên phương tiện dạy học điện tử (Sử dụng phần mềm powerpoint, Violet ) sẽ là các phương tiện tạo hiệu ứng tích cực nhất trong dạy học văn bản nhật dụng.
+ Xác định mục tiêu bài học: Trong kế hoạch bài dạy giáo viên cần xác định rõ các yêu cầu về Kiến thức, kỹ năng, thái độ và các năng lực hướng đến. Bằng việc xác định mục tiêu này trong quá trình dạy học giáo viên sẽ có thể lựa chọn được phương pháp giảng dạy phù hợp , cách thức tổ chức lớp học theo đúng mục tiêu đã định.
+ Xác định các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn
Bên canh những phương pháp dạy học truyền thống cần chú ý các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp trực quan, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp đóng vai
Giải pháp 2. Thực hiện giờ dạy học theo hướng mở, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực:
Tính chất của văn bản nhật dụng là tính thời sự do vậy việc dạy học văn bản này
 giáo viên không nên quá đặt nặng vấn đề về nghệ thuật mà cần làm cho học sinh hiểu được “vấn đề’ mà văn bản đề cập đã và đang diễn ra như thế nào? nó có tác động gì đến cuộc sống xã hội nói chung và đối với bản thân học sinh nói riêng từ đó học sinh có thể hình thành được những quan điểm đánh giá riêng của mình. Do vậy để thực hiện một giờ dạy học văn bản nhật dụng phát huy được tính tích cực cả học sinh và làm cho một tiết học trở nên sinh động, nhẹ nhàng giáo viên cần làm tốt các nội dung sau:
+ Mở đầu bài học một cách hấp dẫn.
Muốn dạy tốt phần văn bản này, giáo viên phải luôn luôn tìm tòi qua thực tế, lịch sử, qua tin tức thời sự quốc tế, trong nước cập nhật, để từ đó áp dụng vào từng bài cụ thể qua cách giới thiệu bài (mở bài), cách liên hệ hợp lý ngay từng phần trong bài học mới có thể tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học.
Ví dụ: Khi dạy văn bản "Phong cách Hồ Chí Minh", để phù hợp với chủ đề về sự hội nhập với thế giới và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vấn đề không chỉ 
mang ý nghĩa cập nhật mà còn mang ý nghĩa lâu dài, giáo viên có thể vào bài như sau:
Ở Paris có 1 bức tường đặc biệt có hình ảnh của những con người đã làm nên thế kỉ 20, trong đó có Bác Hồ của chúng ta (giáo viên trình chiếu hình ảnh)
Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn danh nhân văn hóa thế giới. Bởi vậy phong cách sống và làm việc của Bác không chỉ là phong cách sống và làm việc của người anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn là một nhà văn hóa lớn, một con người của nền văn hóa tương lai Bài viết của nhà giáo, nhà lý luận phê bình văn học Lê Anh Trà đem đến cho chúng ta cái nhìn đầy đủ hơn về phong cách của Người
Bài 2: Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” (G.G_MácKét)
Có thể vào bài: 
Thế kỉ XX đánh đấu sự phát triển nhảy vọt tiến bộ về công nghệ khoa học với phát minh đầu tiên về nguyên tử hạt nhân, đồng thời là phát minh loại vũ khí hủy diệt loài người ghê gớm nhất. Bằng chứng cụ thể: Tháng 8/1945, 2 quả bom nguyên tử của Mĩ ném xuống 2 thành phố Hirôsima và Nagasaki đã hủy diệt 2 triệu người Nhật Bản mà đến bây giờ còn để lại nhiều di chứng thương tâm ( hình ảnh).
Tiếng nói của nhà văn Nam Mĩ, G. Máckét giúp chúng ta thấy rõ nguy cơ về chiến tranh hạt nhân và chúng ta cần phải làm gì để đấu tranh cho một thế giới hòa bình
+ Tổ chức giờ dạy bằng sự kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp:
Phương pháp thuyết trình:
Ví dụ, với phương pháp thuyết trình của học sinh, ở văn bản "Phong cách Hồ Chí Minh", giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu ở nhà những mẫu chuyện kể về phong cách sống, làm việc giản dị của Bác. Trên lớp, học sinh chia sẻ những hiểu biết về đức tính giản dị của Bác, làm giờ học sinh động, sôi nổi hơn.
Nếu phương thức lập luận kết hợp với biểu cảm là hình thức cuốn hút người đọc của văn bản: "Đấu tranh cho một thế giới hoà bình " thì dạy học tương ứng sẽ theo hướng khám phá lí lẽ và chứng cớ thể hiện quan điểm được nêu ra trong văn bản và qua đó là thái độ nhiệt tình của tác giả.
Phương pháp đàm thoại:
Ví dụ : GV có thể sử dụng câu hỏi đàm thoại qua máy chiếu:
- Em hiểu như thế nào về " Bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng"?
 - Ý tưởng của tác giả về việc mở "Một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm hoạ hạt nhân" bao gồm những thông điệp gì?
- Em hiểu gì về tác giả từ những thông điệp đó?
+ Học sinh trình bày quan điểm.
+ Giáo viên giảng tóm tắt qua máy chiếu:
- Bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng đó là tiếng nói của công luận thế giới chống chiến tranh, là tiếng nói yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới.
- Thông điệp về một cuộc sống đã từng tồn tại trên trái đất và về những kẻ đã xoá bỏ cuộc sống trên trái đất bằng vũ khí hạt nhân.
- Tác giả là người yêu chuộng hoà bình, quan tâm sâu sắc đến vũ khí hạt nhân với niềm lo lắng và công phẫn cao độ.
Dạy học văn bản nhật dụng chú ý các dấu hiệu cách thức biểu đạt này không chỉ vì sự cần thiết trong kiến thức đọc - hiểu mà còn vì yêu cầu của dạy học tích hợp trong mọi bài học Ngữ văn.
Phương pháp hoạt động nhóm:
Giáo viên cũng có thể cho học sinh hoạt động nhóm, thảo luận, nêu ý kiến. 
Ví dụ, văn bản "Đấu tranh vì một thế giới hòa bình", giáo viên cho học sinh làm việc nhóm trong 4 phút với câu hỏi:
“Nếu được là đại diện cho trẻ em Việt Nam trình bày yêu cầu, nguyện vọng của tại hội nghị cấp cao thế giới vì hòa bình, em sẽ nói gì?”
Sau đó, mời đại diện (bất kì một học sinh nào trong nhóm) lên trình bày trước lớp như một diễn giả thực thụ. 
Liên hệ mở rộng:
 	Giáo viên sử dụng các tư liệu bằng tư liệu chữ viết, hình ảnh, đoạn phim để làm rõ vấn đề. Các nội dung liên hệ phải mạng tính thời sự để hướng học sinh đến việc nhận thức vấn đề trong thực tiễn. Giúp học sinh thấy được mối quan hệ từ kiến thức của bài học với cuộc sống. 
Ví dụ: văn bản "Đấu tranh vì một thế giới hòa bình", trong luận điểm 1: Hiểm họa của chiến tranh hạt nhân, giáo viên đưa ra dẫn chứng: Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở nước ta đế quốc Mĩ đã rải xuống Việt Nam 19 triệu gallon chất độc, trong đó 7 triệu gallon chất diệt cỏ, 12 triệu gallon chất độc màu da cam.
Trong luận điểm 2: Đoàn kết ngăn chặn chiến tranh hạt nhân vì một thế giới hòa bình là nhiệm vụ của mọi người.
Giáo viên đưa ra các dẫn chứng: Năm 2006 Liên hợp quốc, Nga và nhân dân thế giới phản đối kịch liệt vụ thử thành công hạt nhân của CH nhân dân Triều Tiên (sau 4 năm chuẩn bị dưới lòng đất) bất chấp mọi sức ép của cộng đồng thế giới.
Tháng 4/2003, IRan đã từng bị thế giới trừng phạt vì sử dụng vũ khí hạt nhân.
Tháng 11/2007, IRan vẫn sử dụng chất phóng xạ Uranium để phát triển vũ khí hạt nhân hiện đang bị lên án kịch liệt về vấn đề này. Rõ ràng hiện nay cả thế giới rất căm phẫn và lên án một số nước còn đang chạy đua sử dụng vũ khí hạt nhân để thực hiện mục đích lợi nhuận của mình làm ảnh hưởng đến hòa bình của nhân loại.
Học sinh cần được hoạt động tích cực trong bài học, có cơ hội được trình bày hiểu biết của mình, nói lên tiếng nói suy nghĩ của cá nhân mình thì mới có thể hiểu được những ý nghĩa thiết thực mà các văn bản nhật dụng này mang lại.
Cùng với đó, sử dụng các mẩu chuyện, dẫn chứng mang tính thực tế, lịch sử (áp dụng tùy vào nội dung từng bài), để kích thích gây tò mò, hứng thú, say mê cho học sinh. Giúp học sinh hiểu bài dễ hơn, nhanh hơn qua phần giới thiệu bài và liên hệ ngay từng phần của bài học.
Để đạt được những yêu cầu, kết quả đó, giáo viên phải luôn luôn tìm tòi, lắng nghe,
nắm bắt thông tin cập nhật (liên quan đến nội từng văn bản nhật dụng) qua đài, trên báo chí, qua thông tin mạng, qua tình hình thời sự trong nước, quốc tế, để vận dụng vào bài giảng.
Để phát huy tối đa hiệu quả giờ học, có thể sử dụng những phương pháp tích cực, sau đây:
Phương pháp đóng vai: 
Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm, đóng vai nhân vật trong tác phẩm tự sự, kịch hoặc xử lý một tình huống giao tiếp giả định. Phương pháp này rất phù hợp khi học bài “Phong cách Hồ Chí Minh” và bài “Tuyên bố thế giới về sự sống còn quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”
Ví dụ: Đóng kịch về Bác Hồ: Đóng vai Bác Hồ giản dị trong bữa ăn; trong lúc làm việc; trong cách nói với bộ đội; với nhân dân...
 Để tổ chức hoạt động này giáo viên gợi ý cho học sinh chọn nội dung phù hợp, xây dựng một đoạn kịch bản và thực hiện đóng vai. Hoạt

Tài liệu đính kèm:

  • docthcs_1_0813_2010890.doc