SKKN Một số biện pháp rèn chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh lớp 1

SKKN Một số biện pháp rèn chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh lớp 1

Quy định khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng là bằng một con chữ o (1,5 li đối với chữ cỡ vừa, 2/3 li đối với chữ cỡ nhỏ) Tuy nhiên, khi xác định khoảng cách giữa điểm dừng bút ở chữ ghi tiếng phía trước và điểm đặt bút của chữ ghi tiếng phía sau có 2 trường hợp đó là có lúc cách 1 con chữ o cùng cỡ chữ, nhưng có lúc cách 2 con chữ o cùng cỡ chữ. Vì vậy để học sinh xác định được khi nào thì dùng khoảng cách 1 con chữ o, khi nào dùng khoảng cách 2 con chữ o. Tôi hướng dẫn học sinh nhận biết chữ đi tới và chữ đi lui sau đó áp dụng như sau:

- Với những chữ ghi tiếng bắt đầu bằng chữ “đi tới”, thì điểm đặt bút của chữ đó cách chữ trước nó 1 con chữ o.

+ Ví dụ: Khi viết từ kì lạ cỡ vừa: Sau khi viết chữ ghi tiếng kì, tiếp theo là chữ l (chữ “đi tới”) thì đặt bút cách chữ ghi tiếng kì 1 con chữ o. Như vậy khoảng cách giữa kì và lạ đúng 1,5 li như quy định.

 

doc 26 trang Người đăng hieu90 Lượt xem 3659Lượt tải 5 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Trong những năm qua, Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo, cán bộ ngành tạo điều kiện để trường có đầy đủ các thiết bị dạy học, các đồ dùng dạy học trực quan, phòng học khang trang, rộng rãi, số lượng học sinh trong lớp đảm bảo chất lượng dạy và học.
- Hằng năm, nhà trường tổ chức Hội thi “Vở sạch – Chữ đẹp” cho học sinh và tổ chức rèn luyện cho học sinh tham gia dự thi “Vở sạch – Chữ đẹp” cấp huyện, thường xuyên phát động duy trì phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” trong năm học.
* Từ giáo viên, học sinh.
- Giáo viên nhiệt tình, tận tâm với nghề, đặc biệt với học sinh lớp 1, giáo viên như một người mẹ được các em tin tưởng tuyệt đối.
- Thường xuyên rèn chữ viết, tham gia hội thi “Chữ viết đẹp giáo viên” các cấp để nâng cao kĩ năng viết chữ đẹp và tinh thần rèn chữ của bản thân, bởi với mỗi học sinh, chữ giáo viên là mẫu chữ gần gũi nhất với các em, là mẫu chữ được các em tin tưởng noi theo.
- Học sinh ngoan, nhiều em chăm chỉ, có ý thức học tập cao. Đa số các em là người địa phương nên thuận lợi trong việc tiếp thu bài.
* Từ phụ huynh.
- Đa số phụ huynh quan tâm đến con em mình, tạo điều kiện tốt nhất khi các em đến trường, thường xuyên hỏi han, tạo mối liên hệ giữa phụ huynh với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường.
b. Khó khăn
	Có thể thấy rằng bên cạnh những thuận lợi, còn có những khó khăn như:
	* Từ chương trình học.
	- Trong quá trình học viết từ đầu năm học, học sinh trải qua nhiều quá trình làm quen, rèn luyện. Các em học viết 2 kiểu chữ (chữ viết thường, chữ viết hoa), 2 cỡ chữ (cỡ vừa, cỡ nhỏ), 2 loại bút (bút chì, bút mực), 2 loại ô li (vở tập viết: 4 ô li, vở viết Chính tả: 5 ô li).
	- Học sinh đọc và viết 2 mẫu chữ khác nhau. Đọc bằng chữ in và viết bằng chữ viết nên ở giai đoạn đầu các em thường bối rối về các mẫu chữ.
	* Từ giáo viên.
	- Giáo viên viết chữ còn chưa đẹp.
- Chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm sư phạm còn hạn chế.
	* Từ học sinh.
	- Đầu năm học, học sinh chưa nhìn nhận rõ nhiệm vụ học tập của mình nên một số em chưa tự giác học tập, vẫn còn tâm lí vui chơi như ở mầm non.
	- Ở giai đoạn đầu, các em chưa quen với việc tự viết ra chữ, bởi ở mầm non, các em chủ yếu học tập tô.
	- Ở lứa tuổi còn nhỏ, các em thiếu tính kiên trì, chưa có ý thức rèn chữ, giữ vở. Một số em có thể trạng nhỏ, cầm bút chưa vững nên việc đưa bút viết bị gãy nét, các em dễ mỏi tay dẫn đến lười viết.
	* Từ phụ huynh.
	- Trong thời đại công nghệ bùng nổ, nhiều phụ huynh có suy nghĩ chữ viết đẹp không còn quan trọng vì sau này chủ yếu sử dụng máy tính để đánh máy, xem nhẹ việc rèn chữ của con.
	- Một số phụ huynh vì hoàn cảnh khó khăn, làm xa nhà, không có nhiều thời gian để hướng dẫn, rèn luyện cho con khi ở nhà.
	- Sự tiếp cận chương trình mới của phụ huynh còn hạn chế, dẫn đến tình trạng hướng dẫn sai hoặc “khoán trắng” cho giáo viên.
c. Thống kê lỗi viết chữ học sinh thường mắc phải.
Qua tìm hiểu thực tế tại trường, tôi nhận thấy ở học sinh lớp 1 các em thường mắc phải một số lỗi khi viết như sau: 
- Viết thiếu nét, thừa nét, các nét chữ không đều, chưa đúng độ cao, độ rộng, điểm đặt bút, điểm dừng bút.
- Chữ viết chưa liền mạch, nối chữ chưa đúng quy định.
- Đặt sai vị trí dấu thanh, dấu phụ, dấu quá to hoặc quá nhỏ.
- Sai cách cầm bút và tư thế ngồi viết.
Hình ảnh về lỗi viết chữ, giữ vở ở học sinh lớp 1
Viết sai độ cao chữ
Viết sai độ rộng 	Viết dấu thanh quá to
 Khoảng cách giữa các tiếng quá hẹp 	 Khoảng cách giữa các tiếng quá rộng
 Vở quăn mép Vở không sạch sẽ
* Nguyên nhân mắc lỗi:
Để có thể giúp học sinh khắc phục những lỗi thường gặp khi viết chữ, trước hết cần tìm hiểu nguyên nhân tại sao các em thường mắc lỗi. Qua quá trình dạy học và tìm hiểu, tôi nhận thấy học sinh mắc lỗi khi viết chữ do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nguyên nhân khách quan:
	+ Chương trình học đa dạng, số lượng chữ viết trong một bài khá nhiều dẫn đến tình trạng mỏi tay, tâm lí lười luyện viết.
+ Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con, một số khác chưa nắm được chương trình dạy học mới để giúp con học tập.
- Nguyên nhân chủ quan:
	+ Nhận thức học tập còn hạn chế, chưa tích cực học tập, rèn luyện.
	+ Không nắm được độ cao, độ rộng các nét cơ bản, chưa nắm được cấu tạo của chữ, khoảng cách giữa các chữ, các tiếng.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp. 
a. Mục tiêu của giải pháp.
	Từ những khó khăn trong việc viết chữ của học sinh, tôi đưa ra các giải pháp hướng đến mục tiêu sau:
	- Giúp học sinh rèn chữ đẹp, giữ vở sạch, tránh một số lỗi viết chữ thường gặp, ghi nhớ các nét chữ, cấu tạo chữ.
	- Trang bị cho các em công cụ vững chắc để học tập các môn học khác.
	- Bồi dưỡng trong các em lòng yêu quý tiếng Việt, chữ Việt, góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, kiên trì, tinh thần kỉ luật và phát triển óc thẩm mỹ; thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của Giáo dục Tiểu học.
b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp.
b.1. Nội dung.
	Với kinh nghiệm 4 năm dạy lớp 1, cùng với việc tìm hiểu, nghiên cứu về những khó khăn cũng như nguyên nhân học sinh lớp 1 trình bày chữ viết chưa đẹp, chưa đúng mẫu, tôi đưa ra một số giải pháp để giúp học sinh rèn chữ, giữ vở, giải quyết những khó khăn, hạn chế tình trạng mắc lỗi khi viết chữ ở học sinh lớp 1 như sau:
	- Giải pháp 1: Hướng dẫn tỉ mỉ các bước chuẩn bị cho việc giữ vở sạch, viết chữ đẹp.
	- Giải pháp 2: Khoanh vùng và xác định các điểm tọa độ của chữ cái.
	- Giải pháp 3: Sử dụng một số mẹo khi viết chữ.
	- Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh tự nhìn thấy cái sai, tự tránh lỗi. Thực hiện tích cực công tác nêu gương, khen thưởng học sinh.
- Giải pháp 5: Rèn chữ tích cực trong các việc học, môn học khác. Bồi dưỡng lòng yêu tiếng Việt, yêu thích môn Tiếng Việt ở học sinh.
b.2. Cách thực hiện các giải pháp.
b.2.1 Hướng dẫn tỉ mỉ các bước chuẩn bị đầu tiên cho việc giữ vở sạch, viết chữ đẹp.
Bước chuẩn bị đầu tiên luôn là bàn đạp cho tất cả mọi việc, chuẩn bị kĩ càng là nền móng cho những thành công sau này, vì vậy tôi luôn coi trọng các bước chuẩn bị ban đầu cho học sinh. 
Với giải pháp này, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện các yếu tố ban đầu để đạt được 2 mục đích: một là giữ vở sạch, hai là viết chữ đẹp.
* Giữ vở sạch:
- Hình thức của một quyển vở là yếu tố hấp dẫn người xem, đồng thời tạo hứng thú cho người viết. Một quyển vở sạch đẹp đảm bảo các yêu cầu: Vở được bao bìa, nhãn mác đầy đủ; vở không nhàu nát, cáu bẩn, quăn mép, không tẩy xóa nhiều; trình bày đúng quy định, không lãng phí giấy. Để học sinh hiểu được điều này, ngay từ đầu năm học tôi thường xuyên nhắc nhở, cho các em quan sát mẫu một quyển vở đảm bảo sạch đẹp để các em thấy rõ hơn.
- Từ những điều các em nghe, các em thấy, tôi đưa các em vào việc thực hiện để có được những điều đó:
+ Kiểm tra việc học sinh chuẩn bị nhãn tên, bao vở từ đầu năm. 
+ Nhắc nhở học sinh chuẩn bị khăn và lau tay trước khi viết. Trong vở luôn luôn kẹp sẵn 1 tờ giấy để lót tay khi viết bài.
+ Hướng dẫn thực hiện một số thao tác nhỏ: Ở giai đoạn viết bút chì, các em thường dùng tẩy, tôi nhắc các em hướng tẩy ra ngoài mép vở, dùng tay phủi nhẹ để các rác tẩy không bị mắc lại ở giữa vở. Ở giai đoạn viết bút mực, giáo viên luôn lưu ý học sinh hạn chế sai sót, nếu sai thì hướng dẫn học sinh cách sửa sai gọn gàng nhất bằng cách gạch ngang chữ viết sai rồi viết lại chữ đúng bên cạnh và luôn nhắc học sinh không được sử dụng tẩy với bút mực ở thời gian mới làm quen với bút mực. Khi mở vở cần nhẹ nhàng, tránh làm quăn mép.
* Viết chữ đẹp: Giữ vở đã khó, viết đẹp lại càng khó hơn, vì vậy, bước đầu tiên để có được chữ đẹp, tôi hướng dẫn học sinh nắm một số yêu cầu sau:
- Tư thế ngồi viết:
Tư thế ngồi viết
Hướng dẫn tư thế ngồi viết lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cuối, mắt cách vở 20 – 30 cm (bằng một khuỷu tay), tay phải cầm bút, tay trái giữ vở, hai chân song song thoải mái. Cho các em biết được việc ngồi viết đúng tư thế giúp các em viết đẹp hơn, đồng thời phòng tránh các bệnh về mắt, cong quẹo cột sống, gù lưng,Ở giai đoạn đầu, trước lúc viết, tôi ngồi mẫu cho học sinh quan sát, sau đó cho học sinh nhắc lại tư thế ngồi viết để các em nhớ và thực hiện thành thói quen.
- Cách cầm bút: Cầm bút bằng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa; khi viết dùng ba ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải.
Cách cầm bút
- Di chuyển bút: gồm có rê bút và lia bút.
+ Rê bút: Là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên.
+ Lia bút: Là dịch chuyển bút từ điểm dừng này sang điểm đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy.
- Cách đặt vở: Khi viết, cần đặt vở tạo với mép bàn một một góc 30 độ (nghiêng về bên phải. Khi viết xuống dòng dưới, các em tự đẩy vở lên trên để cánh tay luôn tì lên mặt bàn làm điểm tựa khi viết.
- Hướng dẫn học sinh hiểu được một số thuật ngữ thường xuyên xuất hiện trong quá trình tập viết: Đường kẻ ngang, đường kẻ dọc, li, độ rộng của chữ, độ cao của chữ, rê bút, lia bút.
Thực hiện tốt các yêu cầu cơ bản trên, là bước đầu giúp cho quá trình rèn chữ viết của học sinh thuận lợi và đạt kết quả tốt nhất.
b.2.2. Khoanh vùng và xác định các điểm tọa độ của chữ cái.
Việc rèn chữ viết đẹp đi theo một quy trình nhất định như sau: 
Chữ cái
Bài viết
Chữ ghi tiếng
Nét chữ 
Sau quá trình làm quen, luyện viết với các nét cơ bản thật chuẩn, thật đẹp thì việc ghép nét để tạo thành chữ cái là bước quan trọng để tạo nên sản phẩm đẹp. Ở mầm non, các em chủ yếu học tô chữ, không tự mình viết ra chữ nên ở giai đoạn này, các em gặp nhiều khó khăn, vì vậy, giáo viên cần có biện pháp để giúp học sinh viết được chữ cái đúng và đẹp. Ở đây tôi hướng dẫn bằng cách xác định các điểm tọa độ và khoanh vùng chữ cái.
Muốn hướng dẫn học sinh xác định được tọa độ của chữ cái, bước đầu tiên cần giúp học sinh biết được độ cao, độ rộng các con chữ.
Độ cao mẫu chữ viết thường cỡ vừa
5 li
4 li
3 li
2 li
Gần 2,5 li
Gồm các chữ: b, g, h, k, l, y
Gồm các chữ: d, đ, p, q
Chữ: t
Gồm các chữ: a, ă, â, c, e, ê, i, m, n, o, ô, ơ, u, ư, v, x.
Gồm các chữ: r, s.
Độ rộng mẫu chữ viết thường cỡ vừa
5 li
3,5 li
3 li
2,5 li
2 li
1,5 li
Gần 2 li
Chữ: m
Chữ: n
h, k, p, u, ư, v, x
a, ă, â, d, đ, r, y
g, l, s, b.
c, i, o, ô, ơ, q, t, 
e, ê
Việc nắm được điểm cơ bản này giúp học sinh khoanh vùng được chữ cái, sau khi khoanh vùng, hướng dẫn các em xác định các điểm tọa độ gồm: điểm bắt đầu, điểm chuyển hướng bút và điểm kết thúc.
* Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ a viết thường cỡ vừa:
- Chữ a có độ cao 2 li, độ rộng 2,5 li: Giáo viên vẽ mẫu và hướng dẫn học sinh vẽ một hình chữ nhật có độ cao 2 li và độ rộng 2,5 li, đây được gọi là khoanh vùng chữ cái.
 Khoanh vùng chữ a
- Vẽ các điểm tọa độ: Chữ a viết thường gồm 1 nét cong kín và 1 nét móc ngược. Hướng dẫn học sinh xác định các điểm tọa độ:
+ Điểm bắt đầu: Là điểm đặt bút của nét thứ nhất (nét cong kín), đặt dưới đường kẻ số 3 một chút.
+ Điểm chuyển hướng bút: là điểm đặt bút của nét thứ 2 (nét móc ngược), đặt ở đường kẻ số 3.
+ Điểm kết thúc: là điểm dừng bút của nét thứ 2 (nét móc ngược), đặt ở đường kẻ số 2.
 : Điểm bắt đầu	 : Điểm chuyển hướng bút	 : Điểm kết thúc.
	- Từ các điểm tọa độ đã xác định, hướng dẫn học sinh viết: Từ điểm bắt đầu, viết một nét cong kín, lia bút đến điểm chuyển hướng bút viết nét móc ngược và dừng bút ở điểm kết thúc.
	Với giải pháp này, giúp học sinh tránh viết sai độ cao và độ rộng của chữ, cũng như lỗi viết dấu thanh quá to hoặc quá nhỏ, đây là những lỗi phổ biến nhất ở học sinh đầu cấp.
	Việc áp dụng giải pháp này, đòi hỏi người giáo viên cần kiên trì thực hiện từng bước một, có như vậy mới tạo một thói quen tốt, một nền tảng vững cho quá trình luyện viết lâu dài. 
	b.2.3. Sử dụng một số mẹo khi viết chữ.
	Với lứa tuổi các em, việc sử dụng mẹo khi thực hiện các hoạt động học tập là phương án tối ưu giúp các em ghi nhớ nhanh, vận dụng tốt. Với việc tạo ra mẹo, giáo viên cần sử dụng những từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ, quen thuộc với các em.
	Ở giải pháp này, tôi sử dụng một số mẹo nhằm giúp các học sinh viết đúng khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng, viết chữ liền mạch không bị gãy.
	* Viết đúng khoảng cách:
Với hệ thống bảng chữ cái tiếng Việt, gồm 29 chữ cái, tôi chia ra làm 2 nhóm: 
- Nhóm chữ “đi tới”: Là những chữ cái mà khi bắt đầu viết, mũi bút di chuyển sang phải (theo hướng đi tới).
- Nhóm chữ “đi lui”: Là những chữ cái mà khi bắt đầu viết, mũi bút di chuyển sang trái (theo hướng đi lui).
Nhóm chữ “đi tới”
Nhóm chữ “đi lui”
b, e, ê, h, i, k, l, m, n, p, r, s, t, u, ư, v, x, y
a, ă, â, c, d, đ, g, o, ô, ơ, q.
Quy định khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng là bằng một con chữ o (1,5 li đối với chữ cỡ vừa, 2/3 li đối với chữ cỡ nhỏ) Tuy nhiên, khi xác định khoảng cách giữa điểm dừng bút ở chữ ghi tiếng phía trước và điểm đặt bút của chữ ghi tiếng phía sau có 2 trường hợp đó là có lúc cách 1 con chữ o cùng cỡ chữ, nhưng có lúc cách 2 con chữ o cùng cỡ chữ. Vì vậy để học sinh xác định được khi nào thì dùng khoảng cách 1 con chữ o, khi nào dùng khoảng cách 2 con chữ o. Tôi hướng dẫn học sinh nhận biết chữ đi tới và chữ đi lui sau đó áp dụng như sau: 
- Với những chữ ghi tiếng bắt đầu bằng chữ “đi tới”, thì điểm đặt bút của chữ đó cách chữ trước nó 1 con chữ o. 
+ Ví dụ: Khi viết từ kì lạ cỡ vừa: Sau khi viết chữ ghi tiếng kì, tiếp theo là chữ l (chữ “đi tới”) thì đặt bút cách chữ ghi tiếng kì 1 con chữ o. Như vậy khoảng cách giữa kì và lạ đúng 1,5 li như quy định.
- Với những chữ ghi tiếng bắt đầu bằng chữ “đi lui”, thì điểm đặt bút của chữ đó cách chữ trước nó 2 con chữ o. 
 + Ví dụ: Khi viết từ chả cá cỡ vừa: Sau khi viết chữ ghi tiếng chả, tiếp theo là viết chữ c (chữ “đi lui”) thì đặt bút cách chữ ghi tiếng chả 2 con chữ o, viết như vậy thì khoảng cách giữa chả và cá mới đúng 1,5 li như quy định.
* Đối với việc nối chữ: Để giúp học sinh viết chữ liền mạch, không đứt gãy tôi giúp học sinh nắm được hai cách nối:
- Nối thuận lợi: Là điểm dừng bút của chữ đứng trước trùng với điểm đặt bút của chữ đứng sau.
- Nối không thuận lợi: Là điểm dừng bút của chữ đứng trước không trùng với điểm đặt bút của chữ đứng sau. (thường gặp giữa nét cong kín hoặc cong trái với một nét khác)
Học sinh thường gặp khó khăn khi nối chữ không thuận lợi, vì vậy tôi hướng dẫn học sinh như sau:
- Nối chữ ghi âm đầu với chữ ghi âm đệm hoặc chữ ghi âm chính: Nếu chữ q, s là chữ ghi âm đầu thì sử dụng kĩ thuật lia bút, còn lại các chữ khác đều rê bút.
+ Ví dụ: Khi viết quê, sau khi viết chữ q thì lia bút viết chữ u.
 Khi viết sân, sau khi viết chữ s thì lia bút viết chữ â.
- Nối chữ ghi âm đệm với chữ ghi âm chính: Có 3 vần: oa, oe, uơ nối không thuận lợi, ta sử dụng kĩ thuật rê bút.
+ Ví dụ: Khi viết oa: sau khi viết chữ o, dùng nét nối và rê bút viết tiếp chữ a.
- Nối chữ ghi âm chính với chữ ghi âm cuối: Khi nối với chữ ghi âm chính, nếu chữ ghi âm cuối có chữ c thì sử dụng kĩ thuật lia bút, còn lại các chữ khác đều rê bút.
+ Ví dụ: Khi viết nhạc, sau khi viết a thì lia bút viết c.
 Khi viết nước, sau khi viết ơ thì lia bút viết c.
	Để làm được những điều này, ngay từ đầu năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm chắc các thuật ngữ cơ bản: Đường kẻ, điểm đặt bút, điểm dừng bút, ô li, rê bút, lia bút.
	b.2.4. Hướng dẫn học sinh tự nhìn thấy điểm chưa đúng, tự khắc phục lỗi. Thực hiện tích cực công tác nêu gương, khen thưởng học sinh.
	Xét về mặt tâm lí, chúng ta có thể hiểu rằng khi biết được mình sai sẽ nhanh chóng chấp nhận và khắc phục được lỗi, còn việc mình bị cho là sai nhưng không hiểu mình sai chỗ nào chắc chắn tạo ra một tâm lí mơ hồ, không thoải mái, ngờ vực những điều mình đang làm. Là một giáo viên, chúng ta cũng cần hiểu được việc các em mắc lỗi là chuyện không thể tránh khỏi, cần phải chấp nhận những điều các em làm chưa đúng rồi từ đó giúp các em tự nhìn nhận điểm chưa đúng của bản thân và biết cách khắc phục lỗi . Việc để các em tự mình nhìn nhận cái đúng và cái chưa đúng góp phần tạo nên tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Ở đây, tôi thực hiện bằng phương pháp so sánh giữa cái đúng và cái chưa đúng để các em hiểu rõ hơn. 
- Ví dụ: Khi học sinh viết chữ h viết thường cỡ vừa 4 li, tôi cho học sinh quan sát giữa chữ của các em và chữ h mẫu trong vở có độ cao 5 li. Hỏi các em về sự khác nhau, chắc chắn các em sẽ thấy rõ và tự khắc sâu lỗi của mình để từ đó không mắc phải nữa. 
Từ việc viết đúng, giáo viên thực hiện mục tiêu cao hơn là viết đẹp. Trước hết giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách trình bày bài viết đảm bảo đẹp, thuận lợi cho việc viết bài viết, sau đó theo dõi, nhắc nhở học sinh viết chữ đúng theo mẫu. Từ đó, giáo viên lồng ghép giáo dục các kỹ năng, rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ cho học sinh. 
Để làm được những điều này, giáo viên cần kiên trì, kiềm chế cảm xúc cá nhân, không nên áp đặt, tạo áp lực cho học sinh dẫn đến trình trạng các em nhút nhát, không dám đặt bút viết. Bên cạnh đó, thực hiện theo tinh thần Thông tư 22/2016/TT – BGDĐT về việc đánh giá học sinh tiểu học, tôi thực hiện việc chấm chữa bài kịp thời để phát hiện lỗi của học sinh và có phương án giúp đỡ, khắc phục lỗi; áp dụng tích cực các hình thức thi đua, khen thưởng đối với học viết đúng, viết đẹp, tạo hứng thú cho các em khi viết bài, khơi gợi ý thức phấn đấu, thích viết, chăm rèn hơn.
b.2.5. Rèn chữ tích cực trong các việc học, các môn học khác. Bồi dưỡng lòng yêu tiếng Việt, yêu thích môn Tiếng Việt ở học sinh.
Giảng dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp không chỉ dừng lại ở việc Tập viết mà còn phải nhắc nhở học sinh rèn viết ở tất cả các việc học, môn học khác.
- Trong chương trình công nghệ Tiếng Việt lớp 1, các em học Tập viết ở Việc 2, sau đó vận dụng những sản phẩm đã rèn luyện ở Việc 2 để viết Chính tả ở Việc 4, đây là cơ hội thứ hai để các em tiếp tục rèn chữ.
- Với học sinh lớp 1, các em chỉ được viết khi học môn Tiếng Việt và môn Toán. Đối với môn Toán, ở học kì 2, tôi cho học sinh rèn chữ, rèn cách trình bày chữ viết sạch đẹp qua việc giải các bài toán có lời văn. 
Về mặt tâm lí, các em thích thú hơn khi được làm điều mình yêu thích. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt, yêu thích môn Tiếng Việt cũng là một yếu tố quan trọng.
Từ tìm hiểu thực tế, tôi nhận thấy hầu hết học sinh thích học môn Toán hơn môn Tiếng Việt bởi môn Toán viết ít, đọc ít và có kết quả rõ ràng, môn Tiếng Việt thì viết nhiều: viết Tập viết, viết Chính tả, viết bảng con dẫn đến tình trạng lười viết, lười suy nghĩ để viết. Để các em cảm thấy hứng thú khi luyện viết, bằng các hình thức dạy học vốn có, tôi linh hoạt sử dụng đa dạng các hình thức dạy học, phát huy tối đa các đồ dùng dạy học trực quan, lồng ghép các trò chơi để các em thấy việc học Tiếng Việt nhẹ nhàng hơn. 
Để khích lệ, tạo hứng thú cho học sinh luyện viết, tôi thành lập một đội là “Biệt đội chữ viết đẹp”, thành viên của đội là những học sinh viết chữ đẹp, giữ vở sạch và học sinh viết tiến bộ. Nhiệm vụ của đội là rèn chữ, tạo ra những sản phẩm chữ đẹp để trưng bày trong lớp. Trong lớp, học sinh nào viết chữ tiến bộ, đẹp sẽ được gia nhập vào đội. Mỗi tháng sẽ tổ chức tổng kết đội, tuyên dương khen thưởng thành viên xuất sắc trong việc luyện chữ viết. Qua đây, tôi nhận thấy học sinh cố gắng nhiều hơn, luyện viết nhiều hơn và yêu thích môn Tiếng Việt hơn.
Từ việc yêu thích môn Tiếng Việt các em sẽ yêu tiếng Việt hơn, bên cạnh đó, để trao dồi ở các em lòng yêu tiếng mẹ đẻ của mình, giáo viên cần “rót” vào suy nghĩ của các em sự giàu đẹp của tiếng Việt, cho các em thấy được rằng việc viết chữ đẹp quan trọng đối với các em như thế nào, nó giúp các em có công cụ để học được và học tốt các môn học khác, ngoài ra còn rèn luyện cho các em tính cẩn thận, kiên trì, tinh thần kỉ luật và phát triển óc thẩm mỹ. Ngược lại, giáo viên cũng cần chỉ ra những khó khăn nếu các em viết chữ không đẹp, kể những câu chuyện về việc rèn chữ. Từ đó, các em hình thành cho mình ý thức học tập tốt, tích cực rèn luyện, chủ động học tập, nâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
	Với đề tài này, tôi đưa ra 5 giải pháp, cá

Tài liệu đính kèm:

  • docTRAN THI KIM HUE.THNVTROI.doc