Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh có một số kĩ năng để học tốt môn Địa lí ở Trường THPT

Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh có một số kĩ năng để học tốt môn Địa lí ở Trường THPT

Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các bảng số liệu thống kê (hoặc các số liệu riêng lẻ). Cần chú ý học sinh:

- Không bỏ sót số liệu nào.

- Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào số liệu cụ thể.

- Tìm các trị số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình.

- Xác lập mối quan hệ giữa các số liệu, so sánh đối chiếu các số liệu theo

cột, theo hàng để rút ra nhận xét.

- Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các số liệu nhằm tìm ra kiến thức mới.

 

docx 24 trang Người đăng Hoài Minh Ngày đăng 15/08/2023 Lượt xem 460Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh có một số kĩ năng để học tốt môn Địa lí ở Trường THPT", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iết bị dạy học Địa lí như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng thống kê, băng đĩa hình, trong đó quan trọng nhất là bản đồ. Qua bản đồ, học sinh dễ dàng có được các biểu tượng trong không gian đồng thời phát triển tư duy địa lí.
+ Tăng cường hướng dẫn học sinh quan sát, thu thập thông tin, vận dụng
kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết vấn đề có liên quan trong cuộc sống.
II/ Thực trạng dạy học địa lí ở trường Trung Học Phổ Thông:
Từ trước đến nay, trong dạy học Địa lí, giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học như phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan (mô hình, bản đồ, tranh ảnh, các loại biểu bảng).Có thể nói một số không ít giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn đã sử dụng các phương pháp này khá tốt, khêu gợi được suy nghĩ, tìm tòi, tự lực của học sinh. Tuy nhiên, cũng không ít giáo viên còn ít quan tâm tới việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi sử dụng các phương pháp dạy học nói trên. Có thể nhận thấy những nét chung của giáo viên sử dụng phương pháp trong dạy học môn địa lí như sau:
Phương pháp dùng lời cho đến nay vẫn được coi là một trong những phương pháp chính để chỉ đạo học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng địa lí, đặc biệt là khâu nắm kiến thức mới. Lời ở đây chủ yếu là lời của thầy để mô tả, giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí, phân tích mối quan hệ giữa các hiện tượng, sự vật địa lí kết hợp với việc tổ chức học sinh quan sát khi sử dụng các đồ dùng trực quan. Phương pháp vấn đáp cũng là một trong những phương pháp dùng lời được sử dụng phổ biến hiện nay, trong đó thiên về vấn đáp tái hiện và vấn đáp giải thích minh họa.Việc sử dụng các phương pháp dùng lời như vậy thực chất là giáo viên giảng- học sinh nghe, giáo viên ghi bảng- học sinh chép vào vở, giáo viên chỉ bản đồ- học sinh nhìn theo, giáo viên hỏi- học sinh trả lời.Giáo viên chủ động truyền đạt một cách rõ ràng, mạch lạc nội dung bài đã được chuẩn bị sẵn, trò thụ động tiếp thu và ghi nhớ những nội dung mà giáo viên truyền đạt, kết hợp trả lời câu hỏi giáo viên nêu ra.
Phương pháp trực quan: Việc sử dụng các phương tiện trực quan cũng còn nhiều khiếm khuyết nên ít có tác dụng phát huy tính tích cực của học sinh.Có thể nói các phương tiện dạy học của môn Địa lí có vai trò hết sức quan trọng vì đó là “nguồn kiến thức địa lí”, nhưng hiện nay đại đa số giáo viên địa lí sử dụng các phương tiện trực quan theo cách của phân tích minh họa, ít chú ý đến vai trò là nguồn kiến thức của chúng và chưa chú ý đúng mức đến việc cho học sinh tự làm việc với các phương tiện này. Chính vì vậy, rất nhiều học sinh không biết đọc bản đồ, không biết khai thác các bảng số liệu, nói chung kĩ năng địa lí của học sinh còn yếu.
Trong những năm qua, cùng với việc triển khai cải cách giáo dục, phương pháp dạy học Địa lí tuy đã có một số cải tiến, chú ý tới việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức bằng cách tăng
cường hệ thống câu hỏi có yêu cầu phát triển tư duy, nhưng đó chỉ là những câu hỏi do giáo viên nêu ra và giáo viên dẫn dắt đến đâu thì giải quyết đến đó.Về mặt hình thức, các giờ học đó có vẻ sinh động vì học sinh tích cực hoạt động. Song nếu theo quan niệm về học tập tích cực thì những giờ học như vậy chưa thể nói rằng học sinh đã học tập một cách tích cực, bởi hoạt động của học sinh ở đây mới chỉ là việc trả lời thụ động các câu hỏi của giáo viên chứ bản thân học sinh chưa có nhu cầu nhận thức, chưa chủ động tìm tòi, suy nghĩ và giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài học.
Nguyên nhân của những tồn tại trên đó là chưa có sự thống nhất về quan điểm: Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học địa lí? Chưa có sự triển khai đồng bộ trong các khâu: Bồi dưỡng giáo viên, đổi mới cách viết sách giáo khoa, sách giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giátrong đó chế độ thi cử còn chia ra các môn “chính phụ” là những trở ngại lớn. Nhiều giáo viên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn vì quan niệm môn Địa lí là môn phụ.
III/ Một số biện pháp cụ thể hướng dẫn học sinh học tập Địa lí:
1/ Tổ chức và hướng dẫn học sinh kĩ năng sử dụng các thiết bị:
Thiết bị và phương tiện dạy học phong phú, hiện đại, thực sự là công cụ cho học sinh trong việc nghiên cứu khám phá kiến thức một cách nhanh chóng và có hiệu quả nhất. Do vậy, giáo viên cần tổ chức hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt động học tập nhằm khai thác và lĩnh hội kiến thức với phương tiện dạy học Địa lí sau:
/ Bản đồ, lược đồ:
Đối với việc dạy học Địa lí, bản đồ là nguồn kiến thức quan trọng và được coi như quyển sách thứ hai của học sinh. Tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ theo các bước sau:
Đọc tên bản đồ để biết đối tượng địa lí thể hiện trên bản đồ là gì? Ví dụ:
Bản đồ địa hình thì đối tượng thể hiện trên bản đồ chủ yếu là địa hình ( các dạng địa hình và sự phân bố của chúng); Bản đồ khí hậu thì đối tượng thể hiện chủ yếu của bản đồ sẽ là các yếu tố khí hậu ( Nhiệt độ, khí áp, gió, mưa...) hoặc bản đồ công nghiệp thì đối tượng thể hiện chủ yếu sẽ là các trung tâm và các ngành công nghiệp.
Đọc bảng chú giải để biết cách người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ như thế nào? Bằng các kí hiệu gì? Bằng các màu gì? Bởi các kí hiệu qui ước trên bản đồ là những biểu trưng của các đối tượng, hiện tượng địa lí trong hiện thực khách quan. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết thông qua những kí hiệu đó mà rút ra nhận xét về tính chất, đặc điểm của các đối tượng địa lí được thể hiện trên bản đồ.
Dựa vào các kí hiệu, màu sắc trên bản đồ để xác định vị trí của các đối tượng địa lí.
Dựa vào bản đồ kết hợp với kiến thức địa lí, vận dụng các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp) để phát hiện các mối liên hệ địa lí không thể hiện trực tiếp trên bản đồ (đó là mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh tế với nhau ) nhằm giải thích sự phân bố cũng như đặc điểm các đối tượng , hiện tượng địa lí.
Ví dụ 1: Bài 11 Khu vực Đông Nam Á tiết 1 (Lớp 11)
Döïa vaøo löôïc ñoà Caùc nöôùc trong khu vöïc Ñoâng Nam AÙ,
haõy ñoïc teân caùc quoác gia thuoäc Ñoâng Nam AÙ luïc ñ a,
Ñoâng Nam AÙ bieån ñaûo?
H 'Ner BKrong Truong THPT Buon
Ma Thuot
Ví dụ2:
Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ “Bản đồ các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới” trong SGK Địa lí Lớp 10.(Bài 19: SỰ PHÂN BỐ SINH VẬT VÀ ĐẤT TRÊN TRÁI ĐẤT)
Hình 19.1: Bản đồ các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới
H' Ner Buôn Krông Trường THPT Buôn Ma Thuột
ĐẤT) ”.
Tên bản đồ : “SỰ PHÂN BỐ SINH VẬT VÀ ĐẤT TRÊN TRÁI
Cách thể hiện: Các hoang mạc trên lược đồ được thể hiện bằng màu vàng nhạt.
Dựa vào màu sắc thể hiển trên lược đồ để xác định vị trí của các hoang
mạc, các bán hoang mạc nằm dọc hai bên đường chí tuyến, ở sâu trong lục địa hoặc gần các dòng biển lạnh.
Dựa vào lược đồ, kết hợp với các kiến thức đã học để xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố : Vĩ độ địa lí, vị trí gần hay xa biển, các dòng biển lạnh
với khí hậu từ đó giải thích vì sao các hoang mạc lại thường nằm dọc theo 2 đường chí tuyến, ở sâu trong lục địa.
/ Biểu đồ:
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phân tích biểu đồ theo các bước:
Đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới biểu đồ, xem biểu đồ thể hiện, hiện
tượng gì ?(khí hậu, cơ cấu kinh tế, phát triển dân số...).
Tìm hiểu xem các đại lượng thể hiện trên biểu đồ là gì?(nhiệt độ, lượng
mưa, các ngành kinh tế, dân số...) trên lãnh thổ nào và thời gian nào, được thể hiện trên biểu đồ như thế nào? (theo đường, cột, hình quạt...) và trị số các đại lượng được tính bằng gì?(mm, %, triệu người...).
Dựa vào các số liệu thống kê đã được trực quan hóa trên biểu đồ, đối chiếu, so sánh chúng với nhau và rút ra nhận xét về các đối tượng và hiện tượng địa lí được thể hiện.
Ví dụ 3:
Khi dạy Bài 11: Thiên nhiên nhiên phân hóa đa dạng( Lớp 12)
Bài tập 1: Qua bảng số liệu ,biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, nhận xét và so sánh chế độ nhiệt, chế đô mưacủa 2 địa điểm trên.(Hình 13 .SGK .Trang 50)
Tên biểu đồ: biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội.
Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là nhiệt độ và lượng mưa của
Hà Nội qua các tháng trong năm. Nhiệt độ được thể hiện bằng đường đồ thị, lượng mưa được thể hiện bằng hình cột. Trị số của nhiệt độ được tính bằng (oC), lượng mưa được tính bằng (mm ).
Dựa vào đường đồ thị thể hiện nhiệt độ và các cột thể hiện lượng mưa của Hà Nội có sự chênh lệch của các tháng trong năm. Có tháng nhiệt độ cao (tháng 7) có tháng nhiệt độ thấp (tháng 1), có tháng mưa nhiều (tháng 8), có tháng mưa ít (tháng 12). Sự chênh lệch về nhiệt độ và lượng mưa giữa các tháng cao nhất và thấp nhất tương đối lớn (về nhiệt độ chênh lệch nhau khoảng 12oC, về lượng mưa chênh lệch nhau khoảng 280 mm)
bước:
/ Tranh ảnh địa lí:
Việc khai thác kiến thức từ tranh ảnh địa lí được tiến hành theo các
Nêu tên các bức tranh (hoặc ảnh) nhằm xác định xem bức tranh hay,
bức ảnh đó thể hiện cái gì? (đối tượng địa lí nào?), ở đâu?.
Chỉ ra những đặc điểm, thuộc tính của các đối tượng địa lí được thể hiện trên bức tranh (hoặc ảnh).
Nêu biểu tượng và khái niệm địa lí trên cơ sở những đặc điểm và thuộc tính của nó.
Tuy nhiên, tranh ảnh chỉ có tác dụng giúp học sinh khai thác được một số đặc điểm và thuộc tính nhất định về đối tượng. Vì vậy, giáo viên cần gợi ý
cho học sinh dựa vào kiến thức địa lí đã học, kết hợp với bản đồ, biểu đồ, các tư liệu địa lí khác để giải thích đặc điểm, thuộc tính cũng như sự phân bố (vị trí) của đối tượng địa lí được thể hiện trên bức tranh (hoặc ảnh) đó.
Ví dụ 4:
Bài 14:Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên(Lớp 12).
Mục 2: Tranh Khu công nghiệp luyện kim ở Hoa Kì.
Vấn đề môi trường ở các nước này là gì?
Một góc công nghiệp Hoa Kì
Bãi rác ô tô ở Thụy Điển
II. VÊn ®Ò m«i tr-êng và ph¸t triển ë c¸c n-íc ph¸t triÓn
H' Ner BKrong Truong THPT Buon Ma Thuot
6
Tên tranh: Tranh Khu công nghiệp luyện kim ở Đức.
Đặc điểm khu công nghiệp thể hiện trên bức tranh: Một khu công nghiệp được xây dựng bên bờ một con sông.
Biểu tượng và khái niệm về khu công nghiệp: Hệ thống ống khói san sát, khói bụi mù mịt, hệ thống nước thải đổ ra sông.
Dựa vào các đặc điểm đó để giải thích các hoạt động công nghiệp có ảnh hưởng tới môi trường địa lí như thế nào? (gây ô nhiễm môi trường, biện pháp khắc phục).
/ Bảng số liệu:
Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các bảng số liệu thống kê (hoặc các số liệu riêng lẻ). Cần chú ý học sinh:
Không bỏ sót số liệu nào.
Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào số liệu cụ thể.
Tìm các trị số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình.
Xác lập mối quan hệ giữa các số liệu, so sánh đối chiếu các số liệu theo
cột, theo hàng để rút ra nhận xét.
Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các số liệu nhằm tìm ra kiến thức mới.
Ví dụ 5:
Sản lượng thủy sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2002 (Nghìn tấn).
Bắc Trung Bộ
Duyên Hải Nam Trung Bộ
Nuôi trồng
38,8
27,6
Khai thác
153,7
493,5
Đọc rõ số liệu.
So sánh số liệu và rút ra nhận xét.
+ Sản lượng nuôi trồng Bắc Trung Bộ lớn hơn Duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Sản lượng khai thác Duyên hải Nam Trung Bộ lớn hơn BắcTrung Bộ.
Câu hỏi đặt ra cho bảng số liệu.
+ Vì sao có sự chênh lệch về sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác
giữa hai vùng?.
Trên cơ sở từng bước hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ biểu đố, bản đồ, tranh ảnh địa lí,biễu đồ số liệu giáo viên có thể vận dụng các bước này một cách linh hoạt khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các phương tiện dạy học địa lí như quả địa cầu, mô hình.
2/ Tổ chức hướng dẫn học sinh thu thập, xử lí thông tin trong SGK và trình bày lại:
Sách giáo khoa Địa lí mới được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tình huống, các thông tin đã được lựa chọn kĩ để giáo viên có thể tổ chức hướng dẫn học sinh thu thập, phân tích và xử lí thông tin. Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trên lớp, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thu thập, xử lí thông tin trong sách giáo khoa Địa lí.
Ví dụ 6: Bài 6 Hệ quả chyuển động xung quanh Mặt Trời ( T22,lớp 10)
(Chí tuyến Bắc) 23◦ 27’B
(Xích đạo) 0◦
(Chí tuyến
Nam) 23◦ 27’N
Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của MT trong năm
-Khu vực nội chí tuyến: 2 lần MT lên thiên đỉnh/năm
-NKThạhữiun2vgđựnưcơờninàngoàcothrêtírnêtunTyĐTếnĐc:óc1óhlầihệninệMntưTtợưnlợêgnngMthMTiêTlnêlnđêỉntnhhtihê/inênm
-đKỉnhhuđmvỉựnỗhic?nnăHgmoiệạ2ni cltầhưníợ?tnu1gylếđầnón:?dkiKhễônhnurgavcnựóhcưhnitàệhonếktnưhàợôonn?gg McóT
lên thiên đhỉniệhn.
tượng MT lên thiên đỉnh?
H' Ner BKrong Truong THPT Buon Ma Thuot
H' Ner BKrong TRuong THPT
Buon Ma Thuot
H' Ner BKrong TRuong THPT
Buon Ma Thuot
Ví dụ 7: Bài 11 Sự phân bố của nhiệt đô không khí trên trái đất (lớp 10)
Hãy cho biết nguồn nào cung cấp nhiệt chủ yếu cho mặt đất?
Bức xạ mặt trời tới mặt đất ntn?
Nguồn bức xạ từ mặt trời
Quan sát và cho biết :Nhiệt cung cấp chủ yếu cho không khí ở tầng đối lưu là do đâu?
Nguồn bức xạ từ mặt trời
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG MƯA:
er BKrong Truong THPT Ma Thuot
Ñieàn theâm noäi dung vaøo sô ñoà ñeå thaáy aûnh höôûng cuûa caùc nhaân toá ñeán löôïng möa?
Khí aùp
Froâng
Möa nhieàu
Gioù
Maäu dòch
Möa ít
Doøng bieån
H'N
Ñòa hình
Buon
Dựa vào H13.2 và kiến thức đã học, hãy trình bày và giải thích tình
hình phân bố mưatrên các lục địa theo vĩ tuyến 40B từ Đông sang Tây
H'Ner BKrong Truong THPT Buon
mm
döôùi
MaPThhuaoânt
boá möa
230
200
00

VIỆT NAM
Giải thích vì sao miền ven Đại Tây Dương của Tây Bắc châu Phi cùng nằm ở vĩ độ như nước ta, nhưng Tây Bắc châu Phi có khí hậu nhiệt đới khô, còn nước ta lại có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều?
DÒNG BIỂN NÓNG
H'Ner BKrong Truong THPT Buon Ma Thuot
DÒNG BIỂN LẠNH
mm
KHÔ NÓNG
Địa hình có ảnh hưởng như thế nào tới sự phân bố mưa?
H'Ner BKrong Truong THPT Buon Ma Thuot
Nội dung: Bài được thể hiện qua hai kênh chữ và kênh hình.
Biểu đồ nhiệt độ - lượng mưa của TP. Hồ Chí Minh
Hình ảnh :Rừng ngập mặn ở vùng DHNTB
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thu thập thông tin qua bài viết, tranh ảnh, lược đồ để trả lời các câu hỏi trong bài và rút ra các kết luận về:
Đặc điểm thời tiết bốn mùa và sự thay đổi quang cảnh thiên nhiên theo mùa ở đới ôn hòa.
Sự đa dạng của môi trường đới ôn hòa (nhiều loại môi trường).
Mối quan hệ giữa chế độ nhiệt, mưa với các loại rừng ở đới ôn hòa.
Thông qua hoạt động thu thập, xử lí thông tin để khai thác lĩnh hội kiến thức học sinh sẽ có được phương pháp học tập, biết cách thu thập và xử lí thông tin từ các nguồn tài liệu khác, từ đó hình thành năng lực tự học.
3/ Tổ chức hoạt động của học sinh theo những hình thức học tập khác nhau.
Để có thể tích cực hóa hoạt động học tập(TCHHĐHT) của học sinh, ngoài hình thức tổ chức học tập tập trung theo lớp như hiện nay, nên tổ chức cho học sinh học tập cá nhân và học tập theo nhóm ngay tại lớp.
/ Hình thức học tập cá nhân.
Dạy học theo định hướng TCHHĐHT của học sinh đòi hỏi có sự cố gắng về trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới. Do đó, hình thức tự học tập cá nhân là hình thức học tập cơ bản nhất vì nó tạo điều kiện cho mỗi học sinh trong lớp được tự nghĩ, tự làm việc một cách tích cực nhằm đạt tới mục tiêu học tập. Học sinh phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để khai thác và lĩnh hội kiến thức mới. Đồng thời hình thức này cũng tạo điều kiện để học sinh bộc lộ khả năng tự học của mỗi người.
Việc tiến hành dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập cá nhân có thể như sau:
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức (chung cho cả lớp) và hướng dẫn (gợi ý) học sinh làm việc.
Làm việc cá nhân (ghi kết quả ra giấy hoặc trả lời ra phiếu học tập)
Giáo viên chỉ định một vài học sinh báo cáo kết quả, các học sinh khác theo dõi, góp ý và bổ sung.
Giáo viên tóm tắt, củng cố và chuẩn xác kiến thức.
/ Hình thức học tập theo nhóm.
Trong học tập, không phải bất kì nhiệm vụ học tập nào cũng có thể hoàn thành bởi những hoạt động thuần túy cá nhân, có những bài tập, những câu hỏi, những vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, bên cạnh hình thức học tập cá nhân cần phải tổ chức cho học sinh học tập hợp tác trong các nhóm nhỏ.
Tùy theo số lượng học sinh trong mỗi lớp mà giáo viên chia thành bao nhiêu nhóm, thông thường mỗi nhóm có từ 6-10 học sinh, tùy mục đích và yêu cầu vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định(gồm có Nam lẫn Nữ, cả học sinh khá, trung bình, yếu, kém trong cùng một nhóm). Các nhóm có thể duy trì ổn định trong cả tiết hoặc thay đổi trong từng hoạt động, từng phần của tiết học, các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc giao những nhiệm vụ khác nhau.
Các bước tiến hành tổ chức học tập theo nhóm có thể như sau:
+ Làm việc chung cả lớp:
Giáo viên nêu vấn đề xác định nhiệm vụ nhận thức.
Chia nhóm giao nhiệm vụ cho các nhóm.
Hướng dẫn , gợi ý (cách làm việc theo nhóm, các vấn đề cần lưu ý khi trả lời câu hỏi, hoàn thành các bài tập,...).
+ Làm việc theo nhóm.
Phân công trong nhóm (cử nhóm trưởng, thư ký của nhóm), phân công việc cho từng thành viên trong nhóm.
Từng cá nhân làm việc độc lập.
Trao đổi, thảo luận trong nhóm và cùng nhau hoàn thiện nhiệm vụ của
nhóm.
Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm(không nhất thiết là
nhóm trưởng hay thư ký, mà có thể là một thành viên của nhóm đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm).
+ Làm việc chung cả lớp(thảo luận, tổng kết trước toàn lớp).
Đại diện một vài nhóm báo các kết quả làm việc.
Thảo luận chung(các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung cho
nhau).

Giáo viên tổng kết và chuẩn xác kiển thức.
Sau cùng giáo viên nên có nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc của
H' Ner BKrong Truong THPT Buon Ma Thuot
các nhóm để kịp thời động viên khuyến khích các nhóm làm việc tốt và rút kinh nghiệm cho các nhóm làm việc chưa tốt.
Ví dụ 7: Khi dạy Bài 6: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa (Địa lí lớp 10).
Phân tích hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa.
-	Làm việc chung cả lớp:
+ Xác định nhiệm vụ nhận thức.
- HIỆN TƯỢNG NGÀY, ĐÊM DÀI NGẮN
THEO MÙA VÀ THEO VĨ ĐỘ:
-Quân sát hình vẽ sau, hãy nhận xét về hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa ở BBC?
+ Quan sát hình 6.3(SGK/T23) và trả lời 5 câu hỏi trong phiếu học tập
Câu 1: Vì sao đường biểu diễn trục trái đất (BN) và đường phân chia sáng tối(ST) không trùng nhau?.
Câu 2: Ngày 22/6 và ngày 22/12 nửa cầu nào ngả về phía mặt trời và có diện tích được chiếu sáng rộng hơn? Độ chênh lệch giữa ngày và đêm ở mọi điểm của nửa cầu đó sẽ như thế nào?(Ngày dài hơn đêm hay đêm dài hơn ngày?).
Câu 3: Nơi nào trên Trái Đất có độ dài ngày và đêm bằng nhau?
Câu 4: Ngày 22/6 và ngày 22/12 tia sáng mặt trời chiếu thẳng góc vào vĩ tuyến nào trên Trái Đất?
Câu 5: Từ vĩ tuyến nào lên đến cực Bắc và Nam vào ngày 22/6 và ngày 22/12 chỉ có ngày mà không có đêm hoặc chỉ có đêm mà không có ngày?.
Từ sự phân tích trên hãy rút ra kết luận về hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa trên Trái Đất.
+ Chia nhóm : Lớp chia làm 4 nhóm, giao nhiệm vụ và phát phiếu học tập cho mỗi nhóm.
2 nhóm phân tích hiện tượng ngày đêm dài ngắn trong ngày 22/6.
2 nhóm phân tích hiện tượng ngày đêm dài ngắn trong ngày 22/12.
+ Hướng dẫn gợi ý:
Câu 1: Khi trả lời câu 1 cần nhớ lại kiến thức đã học về hình dáng Trái Đất để hiểu được vì sao Trái Đất có đường phân chia sáng tối(ST)
Quan sát hình 6.3(SGK/23), nhận xét về độ nghiêng của đường phân chia (ST) và đường biểu diễn trục Trái Đất (BN) so với mặt phẳng quĩ đạo. Từ đó giải thích vì sao hai đường này không trùng nhau.
Câu 2: Cần liên hệ với kiến thức đã học ở bài trước xem ngày 22/6 (hoặc ngày 22/12), là mùa nóng hay mùa lạnh của nửa cầu nào? Nửa cầu nào có ngày dài hơn đêm hay đêm dài hơn ngày.
Câu 3: Muốn biết nơi nào trên Trái Đất có độ dài của ngày và đêm bằng nhau, cần so sánh độ dài của ngày và đêm ở xích đạo với độ dài của ngày và đêm ở các vĩ tuyến 23027/ và 66033/ Bắc và Nam.
Kết luân cần rút ra là hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa trên Trái Đất như thế nào? (Mùa

Tài liệu đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_huong_dan_hoc_sinh_co_mot_so_ki_nang_d.docx