Báo cáo Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24-36 tháng tuổi ở trường Mầm non

Báo cáo Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24-36 tháng tuổi ở trường Mầm non

Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp vốn từ vựng cho trẻ.

 Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng tuổi đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.

 VD1: Trong bài nhận biết “Con cá” cô muốn cung cấp từ “đuôi cá” cho trẻ cô phải chuẩn bị một con cá thật và một con cá giả ( được làm bằng bìa) để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn .nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.

 - Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống câu hỏi:

 + Đây là con gì? “Con cá ạ”

 + Các con nhìn xem cá muốn bơi được là nhờ cái gì mà đang quẫy quẫy đây? ( Cái đuôi ạ)

 + Các con ơi, cá đang nhìn chúng mình đấy thế mắt cá nằm ở đâu nhỉ? (Nằm ở trên đầu con cá)

 + Đố các con biết cá sống ở đâu? ( Sống ở dưới nước)

 + Trên mình cá có gì mà lấp lánh thế ? ( Có vẩy)

 - Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc, thiếu từ cô phải sửa ngay cho trẻ.

 VD2 :

 Bài nhận biết “ Ô tô”

 Khi vào bài tôi đặt câu đố:

 “ Xe gì bốn bánh

 Chạy ở trên đường

 Còi kêu bim bim

 Chở hàng chở khách” ( Ô tô)

 - Trẻ trả lời đó là ô tô tôi đưa chiếc ô tô cho trẻ xem và hỏi:

 + Xe gì đây? ( Ô tô ạ )

 + Ô tô có màu gì? ( Màu đỏ ạ )

 + Ô tô đi ở đâu? ( Ô tô đi ở trên đường ạ)

 + Ô tô dùng để làm gì? ( Dùng để đi ạ)

 + Còi ô tô kêu như thế nào? ( bíp bíp.)

 + Đây là cái gì? ( Cô hỏi từng bộ phận của ô tô và yêu cầu trẻ trả lời)

 - Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó lồng liên hệ thực tế giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường.

 

doc 20 trang Người đăng Bằng Khánh Ngày đăng 08/01/2025 Lượt xem 133Lượt tải 1 Download
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24-36 tháng tuổi ở trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 chích.)
 * Giáo dục: 
 + Các con nhớ cây xanh rất tốt cho sức khoẻ của con người các con không được hái hoa, bẻ cành mà phải tưới cây để cây mau lớn nhé! ( Vâng ạ)
 - Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc , rõ ràng hơn.
 - Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.
BIỆN PHÁP 3: PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ THÔNG QUA *HOẠT ĐỘNG CÓ CHỦ ĐÍCH:
 1. Thông qua giờ nhận biết tập nói:
 Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp vốn từ vựng cho trẻ.
 Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng tuổi đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.
 VD1: Trong bài nhận biết “Con cá” cô muốn cung cấp từ “đuôi cá” cho trẻ cô phải chuẩn bị một con cá thật và một con cá giả ( được làm bằng bìa) để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn..nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.
 - Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống câu hỏi:
 + Đây là con gì? “Con cá ạ”
 + Các con nhìn xem cá muốn bơi được là nhờ cái gì mà đang quẫy quẫy đây? ( Cái đuôi ạ)
 + Các con ơi, cá đang nhìn chúng mình đấy thế mắt cá nằm ở đâu nhỉ? (Nằm ở trên đầu con cá)
 + Đố các con biết cá sống ở đâu? ( Sống ở dưới nước)
 + Trên mình cá có gì mà lấp lánh thế ? ( Có vẩy)
 - Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc, thiếu từ cô phải sửa ngay cho trẻ.
 VD2 : 
 Bài nhận biết “ Ô tô”
 Khi vào bài tôi đặt câu đố: 
 “ Xe gì bốn bánh
 Chạy ở trên đường
 Còi kêu bim bim 
 Chở hàng chở khách” ( Ô tô)
 - Trẻ trả lời đó là ô tô tôi đưa chiếc ô tô cho trẻ xem và hỏi: 
 + Xe gì đây? ( Ô tô ạ )
 + Ô tô có màu gì? ( Màu đỏ ạ )
 + Ô tô đi ở đâu? ( Ô tô đi ở trên đường ạ)
 + Ô tô dùng để làm gì? ( Dùng để đi ạ)
 + Còi ô tô kêu như thế nào? ( bíp bíp..)
 + Đây là cái gì? ( Cô hỏi từng bộ phận của ô tô và yêu cầu trẻ trả lời)
 - Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó lồng liên hệ thực tế giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường.
2. Thông qua giờ thơ, truyện:
 Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng được học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện.
 Để giờ thơ, truyện đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo :
 + Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho trẻ.
 + Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ to giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.
 + Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng, giọng đọc phải chuẩn, diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.
 VD1: Trẻ nghe câu truyện “ Đôi bạn nhỏ” . Tôi cung cấp vốn từ cho trẻ đó là từ “ Bới đất”. Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấy chân để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “ Bới đất”.
 ( Các con ạ , bản năng của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chú phải lấy chân để bới đất, đào đất lên để tìm thức ăn cho mình, khi kiếm được thức ăn chú gà sẽ lấy mỏ để ăn đấy.). Sau khi giải thích tôi cũng chuẩn bị một hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học:
 + Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?
 ( Đi kiếm ăn ạ)
 + Vịt kiếm ăn ở đâu? ( Dưới ao )
 + Thế còn bạn Gà kiếm ăn ở đâu? ( Trên bãi cỏ)
 + Bạn Gà kiếm ăn như thế nào? ( Bới đất tìm giun )
 + Khi hai bạn đang kiếm ăn thì con gì xuất hiện đuổi bắt Gà con? ( Con Cáo)
 + Vịt con đã cứu Gà con như thế nào? ( Gà nhảy phốc lên lưng Vịt , Vịt bơi ra xa).
 + Qua câu truyện con thấy tình bạn của hai bạn Gà và Vịt ra sao? 
 ( Thương yêu nhau)
 + Nếu như bạn gặp khó khăn thì các con phải làm gì? ( Giúp đỡ bạn ạ).
 - Cô kể 1- 2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó lấy nhân vật để giáo dục trẻ phải biết yêu thương và giúp đỡ bạn trong lúc gặp khó khăn.
 VD2: Qua bài thơ “Cây bắp cải” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “Sắp vòng quanh”. Tôi chuẩn bị một chiếc bắp cải thật để cho trẻ quan sát, trẻ phải được nhìn, sờ, ngửivà qua vật thật tôi sẽ giải thích cho trẻ từ “ sắp vòng quanh”.
 - Tôi giải thích cho trẻ: Các con nhìn này đây là cây bắp cải mà hàng ngày mẹ vẫn mua về để nấu cho các con ăn đấy. Các con nhìn xem lá bắp cải rất to có màu xanh và khi cây bắp cải càng lớn thì lá càng cuộn thành vòng tròn xếp trồng lên nhau lá non thì nằm ở bên trong được bao bọc bằng những lớp lá già ở ngoài. Bên cạnh đó tôi cũng chuẩn bị câu hỏi để trẻ trả lời:
 + Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải ạ)
 + Cây bắp cải trong bài thơ được miêu tả đẹp như thế nào?
 ( Xanh man mát )
 + Còn lá bắp cải được nhà thơ miêu tả ra sao? ( Sắp vòng quanh ạ)
 + Búp cải non thì nằm ở đâu? ( Nằm ở giữa ạ)
 - Như vậy qua bài thơ ngoài những từ ngữ trẻ đã biết lại cung cấp thêm vốn từ mới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm phong phú.
 - Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắp cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.
 VD3: Trong câu truyện “ Thỏ ngoan” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc thái tình cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nói ngọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạn hơn khi trả lời.
 + Trẻ hay nói ô tô - ô chô.
 + Trẻ nói Thỏ ngoan - Thỏ ngan
 + Bác Gấu - Bác ấu
 + Con Cáo - Con áo
 . ..
 - Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách: tôi nói mẫu cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo.
 - Thể hiện sắc thái, ngữ điệu nhân vật sẽ cuốn hút rất nhiều trẻ tham gia đặc biệt những trẻ nhút nhát qua đó cũng mạnh dạn hơn. Đối với những trẻ đó tôi động viên, khích lệ trẻ kịp thời.
 - Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “ Thỏ ngoan” 
 + Giọng Bác Gấu bị mưa rét thì ồm ồm và run, nét mặt buồn.
 + Giọng con Cáo thì gắt gỏng, nét mặt kênh kiệu.
 + Giọng Thỏ thì ân cần , niềm nở.
 - Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức . 
3. Thông qua giờ âm nhạc:
 - Để thu hút trẻ vào giờ học và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt hơn thôi thúc tôi phải nghiên cứu, sáng tạo những phương pháp dạy học tốt nhất có hiệu quả với trẻ. 
 - Đối với tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều đồ vật
 ( Trống, lắc, phách tre, mõ, xắc xô và nhiều chất liệu khác ) trẻ được học những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại vận động theo bài hát một cách nhịp nhàng. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc.
 - Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh đẹp của bài hát.
 VD: Hát và vận động bài “ Con voi”
 + Câu đầu tiên : Con vỏi con voi
 Cái vòi đi trước.
 (Trẻ đưa tay ra phía trước giả làm vòi con voi)
 + Câu thứ hai: Hai chân trước đi trước
 Hai chân sau đi sau.
 ( Hai tay chống hông , hai chân nhấc lên nhấc xuống)
 + Câu cuối: Còn cái đuôi đi sau rốt 
 Tôi xin kể nốt
 Câu chuyên con voi. 
 ( Một tay chống hông, một tay đưa ra đằng sau vờ làm đuôi con voi)
4. Thông qua giờ vận động:
 - Trong góc vận động của lớp tôi đã sử dụng những thùng bìa để làm thành tàu hoả cho trẻ chơi. Mỗi thùng làm thành một toa tàu. Trong khi chơi trẻ có thể vừa chơi vừa kết hợp âm nhạc hát :” Đoàn tàu tí hon”, “ Tàu vào ga”..vận dụng vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
 - Tôi còn phân loại màu xanh, đỏ, vàng của những chiếc vòng để khi trẻ phân biệt màu không bị nhầm lẫn. Khi trẻ chơi với vòng tôi có thể hỏi trẻ giúp ngôn ngữ của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn:
 + Vòng này có màu gì hả con? ( Màu đỏ ạ)
 + Thế còn vòng này có màu gì đây? ( Màu xanh ạ)
 + Vòng để làm gì con có biết không? ( Để học, để chơi trò chơi ạ)
 + Con sẽ chơi gì với vòng ? ( Con lái ô tô ạ)
BIỆN PHÁP 4: PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ THÔNG QUA TRÒ CHƠI:
 - Đối với trẻ nhà trẻ, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một biện pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử dụng” số vốn từ ” đó một cách thành thạo.
 - Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Và tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò chơi xong sẽ gây sự hứng thú lôi cuốn trẻ vào bài học. Như vậy trẻ sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng và thoải mái.
 - Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo, đọc những tài liệu sách và tôi thấy rằng trò chơi này thực sự có hiệu quả làm tăng thêm vốn từ cho trẻ, từ đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong phú.
* Trò chơi 1: “Cái gì? Dùng để làm gì?”
 - Mục đích của trò chơi này là tôi muốn trẻ nhận biết được một số đồ dùng quen thuộc và biết tác dụng của những đồ chơi từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển :
* Chuẩn bị:
 + Đồ dùng để ăn uống ( Bát, thìa, 

Tài liệu đính kèm:

  • docbao_cao_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_do_tuoi.doc