Đề tài Một số kinh nghiệm quản lý trong công tác giáo dục học sinh ở trường tiểu học

Đề tài Một số kinh nghiệm quản lý trong công tác giáo dục học sinh ở trường tiểu học

Thành lập Ban chỉ đạo việc quản lý học sinh có khó khăn về học tập và rèn luyện đạo đức bao gồm: Ban Giám hiệu, Bí thư Chi đoàn, Tổng Phụ trách Đội, các giáo viên chủ nhiệm, Ban Đại diện cha mẹ học sinh ở các lớp.

 - Ban chỉ đạo tìm hiểu, nắm bắt tình hình học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức.

 Đây là khâu quan trọng trong công tác quản lý và giáo dục học sinh. Do vậy ngay từ đầu năm học, tôi đã rà soát lại các học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức ở các lớp.

 + Với khối 2, 3, 4, 5: thông qua nhận xét, đánh giá từ cuối năm học trước, qua khảo sát chất lượng đầu năm.

 + Với khối 1: Tìm hiểu đối tượng học sinh thông qua phụ huynh, qua các giáo viên dạy mẫu giáo để biên chế lớp và phân công giáo viên chủ nhiệm phù hợp.

Phân công các giáo viên, nhân viên có gia đình ở tại địa phương thu thập thêm thông tin, đặc biệt là các thông tin về hoàn cảnh gia đình của các em.

 

doc 23 trang Người đăng honghanh96 Ngày đăng 30/10/2018 Lượt xem 780Lượt tải 16 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Một số kinh nghiệm quản lý trong công tác giáo dục học sinh ở trường tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rèn luyện nhân cách cho học sinh.
2. Thực trạng về công tác giáo dục học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức ở Trường Tiểu học Võ Thị Sáu.
2.1. Đặc điểm tình hình Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
a. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
TS
Nữ
DT
Đảng
Viên
Đoàn viên
Trình độ đào tạo
Ghi chú
ĐH
CĐ
TH
Dưới TH
Tổng số
47
40
15
17
3
17
11
17
2
CBQL
3
2
3
2
1
G.viên
38
33
14
11
14
10
14
N.viên
6
5
1
3
3
1
0
3
2
- Có 1 Chi bộ Đảng, 1 Chi đoàn.
- Có Hội CMHS học sinh.
b. Học sinh
Khối
Số lớp
TS HS
Nữ
D.tộc
NDT
Tuyển mới
Lban
Hộ nghèo
K.tật
1
5
121
63
113
59
110
11
 31
1
2
5
105
56
99
55
4
288
3
4
111
53
109
53
3
 19
4
4
102
49
101
49
2
 30
1(Ko theo kịp)
5
4
91
40
83
37
0
 17
COÄNG
22
530
261
505
253
20
 125
1
	2.2. Thuận lợi – Khó khăn
	a. Thuận lợi
- Tập thể giáo viên đoàn kết, có tinh thần tương trợ giúp đỡ nhau trong công tác và đời sống.
- Đa số giáo viên nhiệt tình công tác có ý chí phấn đấu vươn lên.
 	- Được cấp trên, Đảng, chính quyền, các đoàn thể và nhân dân địa phương quan tâm, ủng hộ. 
b. Khó khăn
	- Trường có 3 điểm trường, học sinh chủ yếu là đồng bào Êđê, chiếm 95,3% . Số hộ nghèo 125/530, chiếm 23,6%.
 	- Gần 100% số phụ huynh là người đồng bào, sống bằng nghề nông, thu nhập và trình độ dân trí thấp nên ảnh hưởng nhiều đến việc phối kết hợp giáo dục cũng như đánh giá học sinh.
- Một số phụ huynh mải lo phát triển kinh tế gia đình chưa quan tâm đúng mức đến con em mình, chưa nắm được tâm lý lứa tuổi nên chưa biết cách dạy bảo con đúng đắn.
- Trình độ, năng lực của giáo viên không đều nhau.
- 36,8% giáo viên là đồng bào dân tộc thiểu số, một số giáo viên trẻ mới vào ngành chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý lớp học.
	2.3. Thực trạng về công tác giáo dục học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức ở trường TH Võ Thị Sáu năm học 2015 – 2016
 Tôi đã thu thập số liệu phân loại học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức theo 3 nhóm:
- Nhóm 1: Học sinh có khó khăn trong học tập.
- Nhóm 2: Học sinh có khó khăn trong rèn luyện đạo đức.
- Nhóm 3: Học sinh khó khăn cả 2 mặt học tập và rèn luyện đạo đức.
Biểu hiện của học sinh ở các nhóm như sau:
Nhóm 1: Học sinh có dấu hiệu cơ bản sau đây:
+ Động cơ học tập không rõ ràng.
+ Nhận thức chậm, kĩ năng thực hành yếu, kết quả học tập còn hạn chế.
+ Thái độ tiêu cực trong học tập, chán học, lười học, không ham thích những hoạt động học tập. Từ đó dẫn đến các hành vi tiêu cực, gian dối, đối phó.
Ví dụ: học sinh không học bài, không làm bài tập ở nhà do các em rỗng kiến thức lớp dưới. Đến lớp không chịu nghe giảng còn chọc phá các bạn.
Nhóm 2: Biểu hiện học sinh nhóm 2 như sau:
- Về mặt tình cảm và ý chí đạo đức:
+ Các em có những dấu hiệu tổn thương về mặt tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè, thầy cô.
+ Sống thiếu tình cảm, mồ côi cha mẹ, cha mẹ bỏ nhau, khao khát muốn sống trong tình cảm của người thân, bạn bè, nhưng không được đáp ứng, các em cũng có những biểu hiện tiêu cực.
+ Có biểu hiện mất thăng bằng về mặt tình cảm, dễ bị kích động hoặc trở nên nhu nhược.
Ví dụ: các em dễ bị lôi cuốn, bị cám dỗ, nhu nhược yếu đuối, bị lợi dụng, không muốn khắc phục khó khăn trong lao động và học tập.
- Những biểu hiện về hành vi thói quen đạo đức:
+ Hay vi phạm kỉ luật, nề nếp học tập, nội quy nhà trường,
+ Đôi khi có những hành vi tỏ ra xấc xược, chọc tức, trêu ngươi, kể cả đối với thầy cô giáo; có khi lại tự cao, tự đại, coi thường bạn bè.
+ Nói tục, chửi bậy, vô lễ với người lớn...
+ Lấy tiền, lấy đồ dùng học tập của bạn, xì lốp xe
- Nhóm 3: Thường có những biểu hiện sau:
+ Những em học yếu thường hay vi phạm kỉ luật học tập, thiếu trung thực trong học tập, hay tỏ ra bất cần, động cơ học tập lệch lạc. Do đó, có những biểu hiện hành vi sai trái về mặt đạo đức.
+ Những em yếu kém về mặt đạo đức, đặc biệt là không có nhu cầu xã hội lành mạnh, sống thiếu niềm tin, kém ý chí thì ít khi là học sinh giỏi, thường là học sinh yếu kém.
 	Bảng thống kê số học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức đầu năm học 2015 – 2016 của trường Tiểu học Võ Thị Sáu:
Tổng số học sinh
Số học sinh ngoan, có tinh thần thái độ học tập tốt
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
530
394
55
36
45
2.5. Nguyên nhân của thực trạng học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức.
* Nguyên nhân từ chủ quan bản thân học sinh:
 	Do đặc điểm của học sinh tiểu học là lứa tuổi hồn nhiên, hiếu động, cơ thể bắt đầu phát triển về chiều cao, nhận thức, tâm lí tình cảm của các em chưa bền vững, không ổn định, dễ phát sinh mặc cảm, bồng bột, cả tin, thiếu tự chủvà thích bắt chước, thích tỏ vẻ “ta đây”, thích “làm người lớn” (thường gặp ở học sinh lớp 4; 5) nên các em rất dễ bị lôi kéo, sa ngã vào những việc làm không tốt, tạo cơ hội cho những biểu hiện tiêu cực trong xã hội xâm nhập vào tư tưởng tình cảm của các em.
* Nguyên nhân từ phía gia đình:
 	- Gia đình là cái nôi của sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ thơ. Gia đình không quan tâm hoặc không biết quan tâm đúng mức cũng làm cho con em mình hư hỏng.
- Một số gia đình vì mải mưu sinh để kiếm sống bằng đủ mọi cách nên ít quan tâm đến cuộc sống của con cái; không chia sẻ những khó khăn về mặt tâm lý, tình cảm đối với trẻ thơ, coi đó là điều không đáng phải quan tâm. 
 	- Một số gia đình kinh tế quá dư dật, do đó nuông chìu con thái quá, chìu không đúng cách, đáp ứng mọi đòi hỏi của con cái. Ví dụ: sắm điện thoại di động, cho con tiền tiêu vặt hàng ngày, tiêu sài phung phí.
 	- Có những gia đình bố, mẹ lại là tấm gương mờ nhạt cho con trẻ như: vợ chồng cãi lộn thậm chí đánh nhau, gia đình có người nghiện hút, nói năng thô tục, cục cằn 
 	- Có những học sinh có hoàn cảnh éo le: bố mẹ bỏ nhau hoặc mồ côi cha, mẹ phải ở với người thân nên sự quan tâm chăm sóc từ người thân còn nhiều hạn chế.
 	- Gia đình có khó khăn về kinh tế dẫn đến bố mẹ không có điều kiện quan tâm đến việc học hành của con cái.
 	- Bố mẹ thiếu sự hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi, thiếu kiến thức về giáo dục và chăm sóc con cái.
* Nguyên nhân từ phía nhà trường:
 	- Năng lực của một số giáo viên chủ nhiệm còn hạn chế trong việc giáo dục đạo đức học sinh. Quá chú trọng việc truyền thụ kiến thức mà quên đi mục tiêu giáo dục học sinh trở thành người công dân có ích cho xã hội, chưa đi sâu, đi sát từng học sinh để nắm bắt hoàn cảnh riêng của từng em để thông cảm, chia sẻ.
 	- Vẫn còn có giáo viên bộ môn chưa chú trọng việc thông qua “dạy chữ” để “dạy người”, đôi khi còn coi việc giáo dục đạo đức học sinh chỉ là việc của giáo viên chủ nhiệm.
 	- Vẫn còn có giáo viên nhận xét, đánh giá học sinh chưa sát thực tế. Trong giờ dạy, chưa quan tâm đúng mức đến những học sinh khó khăn tron học tập, chỉ chú trọng gọi những học sinh hay giơ tay phát biểu.
 	- Việc áp dụng các phương pháp giáo dục nói chung, sự phối kết hợp giữa các lực lượng giáo dục mà nhà trường đóng vai trò chủ đạo đạt hiệu quả chưa cao.
* Nguyên nhân từ phía xã hội:
 	Một số hoạt động dịch vụ văn hóa không lành mạnh lôi kéo học sinh như trò chơi điện tử, chat, chơi xu làm cho các em mải chơi, quên học hành.
 	Ngoài những nguyên nhân trên còn có yếu tố về mặt tâm lý của lứa tuổi thiếu niên. Đó là trẻ em ở lứa tuổi này thường là hiếu kỳ, tò mò thích làm người lớn, thích tìm hiểu cái mới.
 	Khi tìm hiểu các nguyên nhân nói trên, chúng ta thấy mấu chốt của vấn đề giáo dục học sinh nói chung và giáo dục học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức nói riêng là người quản lý phải xây dựng được mối quan hệ khăng khít giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội.
 	Vấn đề đặt ra với đội ngũ cán bộ quản lý và tập thể sư phạm trường Tiểu học Võ Thị Sáu là tìm được các biện pháp khả thi để quản lý và giáo dục các học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a. Mục tiêu của giải pháp
- Giúp cho Ban Giám hiệu huy động được tối đa nguồn nhân lực trong hội đồng nhà trường kết hợp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
- Giúp giáo viên áp dụng tốt các phương pháp kỉ luật tích cực, tăng cường tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
- Tất cả các em học sinh đều được quan tâm đúng mức, không bỏ rơi em nào.
- Kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục : Gia đình – Nhà trường – Xã hội.
	- Huy động sự chung tay góp sức của cộng đồng dân cư nơi trường đóng.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
1. Lập kế hoạch chỉ đạo quản lý học sinh:
 	- Thành lập Ban chỉ đạo việc quản lý học sinh có khó khăn về học tập và rèn luyện đạo đức bao gồm: Ban Giám hiệu, Bí thư Chi đoàn, Tổng Phụ trách Đội, các giáo viên chủ nhiệm, Ban Đại diện cha mẹ học sinh ở các lớp. 
 	- Ban chỉ đạo tìm hiểu, nắm bắt tình hình học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức.
 	Đây là khâu quan trọng trong công tác quản lý và giáo dục học sinh. Do vậy ngay từ đầu năm học, tôi đã rà soát lại các học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức ở các lớp. 
 	+ Với khối 2, 3, 4, 5: thông qua nhận xét, đánh giá từ cuối năm học trước, qua khảo sát chất lượng đầu năm.
 	+ Với khối 1: Tìm hiểu đối tượng học sinh thông qua phụ huynh, qua các giáo viên dạy mẫu giáo để biên chế lớp và phân công giáo viên chủ nhiệm phù hợp. 
Phân công các giáo viên, nhân viên có gia đình ở tại địa phương thu thập thêm thông tin, đặc biệt là các thông tin về hoàn cảnh gia đình của các em.
Phân loại học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức.
Trên cơ sở các thông tin thu nhận được trong việc tìm hiểu và nắm bắt tình hình học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức, tôi tiến hành tổng hợp và phân loại sau đó chia làm 3 nhóm như sau: 
 Nhóm 1: Các học sinh có khó khăn trong học tập.
 Nhóm 2: Các học sinh có khó khăn trong rèn luyện đạo đức.
 Nhóm 3: Các học sinh có khó khăn về cả hai mặt học tập và rèn luyên đạo đức.
 Mỗi nhóm như vậy lập một danh sách riêng theo mẫu:
TT
Họ và tên
Lớp
Địa chỉ
(thôn, buôn)
Những khuyết điểm chính
Hoàn cảnh
gia đình
- Ban chỉ đạo phân công cụ thể cho giáo viên chủ nhiệm các lớp theo dõi chặt chẽ hành vi đạo đức của học sinh ở các nhóm đối tượng này. Với các em có khó khăn trong học tập, nhà trường yêu cầu giáo viên chủ nhiệm kết hợp cùng giáo viên bộ môn lập kế hoạch phụ đạo cho các em học yếu ở các môn khác nhau (Chủ yếu hai môn: Toán, Tiếng Việt).
2. Quán triệt tư tưởng, nhiệm vụ giáo dục học sinh có khó khăn về học tập và rèn luyện đạo đức.
 	Thông qua cuộc họp Hội đồng Sư phạm đầu năm học, Ban Giám hiệu quán triệt đến toàn thể cán bộ giáo viên – nhân viên nhà trường, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm về tư tưởng và trách nhiệm quan tâm giáo dục cho số học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức. Tập thể sư phạm trong nhà trường cần nắm vững các đặc điểm về lao động nghề nghiệp:
	Đối tượng lao động sư phạm trường Tiểu học là học sinh lứa tuổi 6 đến 11, lứa tuổi quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách. Học sinh có nhu cầu cao về trí tuệ và tình cảm. Để đáp ứng điều này, người giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng và lòng nhân ái, yêu nghề, mến trẻ.
Phương tiện của lao động sư phạm cũng mang tính đặc thù. Đó là nhân cách người thầy cùng với các thiết bị dạy học. Trong đó nhân cách người thầy có vai trò quan trọng nhất. Thái độ, lời nói, kỹ năng giao tiếp, ứng xử của người thầy cũng như của các nhân viên văn thư, kế toán, bảo vệ  cũng có tác dụng rất lớn đến tình cảm, nhận thức của học sinh.
Thời gian lao động sư phạm không chỉ đảm bảo đúng quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao động mà cần mang tính năng động, sáng tạo cùng với sự say mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm trước thế hệ trẻ và trước toàn xã hội.
 	Sản phẩm của lao động sư phạm là những con người có nhân cách phát triển toàn diện, đạt được mục tiêu giáo dục. Nghĩa là sản phẩm đó không được quyền có phế phẩm.
 	Như vậy, tập thể sư phạm nhà trường không được quyền chối bỏ việc giáo dục các học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức mà mỗi người phải có trách nhiệm tìm ra các giải pháp giáo dục thích hơp nhất tùy theo nhiệm vụ được phân công. Đặc biệt, luôn lấy giáo dục bằng các biện pháp giáo dục tích cực làm kim chỉ nam cho các hành động, nghĩa là cho học sinh tự thảo luận và xây dựng các quy định và thực hiện các quy định đó chứ giáo viên không áp đặt, không có những hành vi, lời nói xúc phạm nhân cách, thân thể hoặc tổn thương các em. 
 	3. Huy động các lực lượng cùng tham gia quản lý, giáo dục.
 	* Chi bộ: Giao trách nhiệm cho một đồng chí Chi ủy phụ trách công tác Đoàn – Đội của trường, đồng chí Bí thư chỉ đạo công việc quản lý, tổ chức hướng dẫn việc giáo dục học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức.
 	* Ban Giám hiệu: Cùng với một số giáo viên có kinh nghiệm trong công tác giáo dục đạo đức xây dựng bản nội quy của trường, cam kết giữa nhà trường, giáo viên chủ nhiệm với học sinh và phụ huynh. Bản nội quy, cam kết được lấy ý kiến tham gia của học sinh và phụ huynh, đồng thời làm cơ sở pháp lý cho việc giáo dục và xử lý vi phạm kỉ luật của học sinh. Khi giáo viên chủ nhiệm có khó khăn trong công tác, Ban Giám hiệu kịp thời tư vấn cách giải quyết, nhiều trường hợp Ban Giám hiệu trực tiếp tham gia giải quyết.
* Đối với giáo viên: Xây dựng được phong trào tự học, tự rèn luyện không ngừng để nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, họp hội đồng sư phạm, các buổi học tập chính trị, hội thảo và tự học, tự nghiên cứu. Mỗi giáo viên thật sự phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Chất lượng bộ môn và quản lý giờ học trên lớp phải có hiệu quả. Giáo viên bộ môn có ý thức giáo dục đạo đức thông qua môn học và thường xuyên kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để giáo dục các em có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức.
 	Với các học sinh có khó khăn trong học tập: Giáo viên phải tận dụng tối đa quỹ thời gian giảng dạy trên lớp, chú ý giúp đỡ các học sinh yếu kém, không gây căng thẳng, ức chế. Tạo điều kiện để các em được tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, nên dành những câu hỏi vừa sức với từng đối tượng. Tổ chức tốt hoạt động nhóm, giúp các em xóa bỏ mặc cảm và tự tin hơn trong học tập. Lập kế hoạch phụ đạo cho các em học yếu theo khối. Với các em nhận thức chậm: luôn phải có sự động viên khích lệ, tránh chê bai vì các em rất tự ti. Cần chú ý cả đến lời nhận xét trong vở của các em và lời nhận xét trực tiếp sao cho các em thấy mình đã tiến bộ hoặc cần phải cố gắng. 
 	Ngoài ra giáo viên bộ môn còn phải hướng dẫn học sinh tỉ mỉ cách học bộ môn của mình phụ trách sao cho hiệu quả cao nhất. Chú ý phương pháp từng bài dạy sao cho thật dễ hiểu, dễ nhớ. Tăng cường kiểm tra, đánh giá công bằng, khách quan. 
 	* Đối với giáo viên chủ nhiệm:
	Tổ chức tốt sinh hoạt 15 phút đầu giờ: Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh ở nhà. Thường xuyên nắm bắt kịp thời các biểu hiện tích cực của các em để kịp thời động viên khen ngợi và theo dõi sát sao các biểu hiện hành vi không đúng chuẩn mực để kịp thời uốn nắn. Để cảm hóa được các em chưa ngoan, người giáo viên chủ nhiệm phải luôn cởi mở, chân tình, tránh những lời nói xúc phạm, những lời nói làm tổn thương đến lòng tự trọng của các em. Phân công các em học sinh giỏi giúp đỡ cả về học tập lẫn rèn luyện đạo đức dưới hình thức: “Đôi bạn cùng tiến”. Có thể dùng biện pháp “độc trị độc” bằng cách giao việc hoặc phân công các em hay nghịch làm cán bộ phụ trách lao động, đội trưởng đội Cờ đỏ  và đòi hỏi cao ở các em, nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn (tuy nhiên phải bằng biện pháp kỉ luật tích cực).
Để tạo tình thân và sự gắn kết tập thể lớp, giáo viên chủ nhiệm phải tăng cường các hình thức tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho sinh động, hấp dẫn; tổ chức thi đua giữa các tổ; tổ chức sinh nhật cho các bạn có cùng tháng sinh; tặng quà cho các em có hoàn cảnh khó khăn trong lớpKết hợp với ban Đại diện cha mẹ học sinh của lớp đến thăm gia đình các em để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh của từng học sinh. 
* Đội thiếu niên: Tổ chức các đợt thi đua theo từng chủ đề. Thành lập đội Cờ đỏ để thường xuyên theo dõi, kiểm tra các nề nếp hoạt động của toàn trường, phát hiện các học sinh vi phạm nội quy, quy định của trường như: đi muộn, trốn học, đánh nhauQuy định chấm điểm của đội Cờ đỏ được đưa về các lớp để thảo luận, lấy ý kiến. Ban chỉ huy Liên Đội cùng với đồng chí Tổng Phụ trách thống nhất quy định chấm điểm thi đua.
* Đối với phụ huynh học sinh: Ban chỉ đạo định hướng cho Ban Đại diện cha mẹ học sinh trong kế hoạch hoạt động phối hợp giáo dục học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức. Hướng dẫn họ cách trao đổi để giúp đỡ các phụ huynh có con chưa ngoan. Những trường hợp đặc biệt, Ban Giám Hiệu mời phụ huynh đến trường trực tiếp trao đổi các biện pháp giúp họ giáo dục, dạy bảo con như: kiểm tra bài học, bài làm của con; động viên, khích lệ và có thể treo phần thưởng mà con thích và gia đình có thể đáp ứng được, không nhiếc mắng, chửi rủa, đánh đập con
* Đối với các tổ chức chính trị ở địa phương: Ban Giám hiệu nhà trường tham mưu và phối hợp để giáo dục học sinh: gặp trực tiếp các đồng chí bí thư chi bộ, thôn trưởng buôn trưởng, chi hội trưởng phụ nữ trong các buổi giao ban hàng tháng để trao đổi các trường hợp đặc biệt như có dấu hiệu bỏ học, chán học (do gia đình có sự bất hòa, mải làm ăn hoặc các em bị kẻ xấu lôi kéo) để cùng nhà trường kết hợp giúp đỡ, động viên gia đình các em và có thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi, nhắc nhở, dạy bảo các em. 
 	4. Nhà trường tăng cường tổ chức các hoạt động:
Để lôi cuốn học sinh, làm cho học sinh yêu trường, yêu lớp nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt động vui tươi lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi các em, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương. Năm học 2015-2016, trường Tiểu học Võ Thị Sáu tổ chức “Đêm hội trăng rằm” cho các em học sinh nhân Tết Trung thu qua Hội thi “Làm lồng đèn” đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Phụ huynh học sinh rất nhiệt tình hưởng ứng, giúp đỡ, hướng dẫn các em làm đèn Trung thu để tham gia thi giữa các chi đội. Các em được biểu diễn văn nghệ và xem múa lân đầy ấn tượng và thích thú. Các em có biểu hiện không tốt trong việc rèn luyện đạo đức được phân công làm việc thì rất hăng hái, tham gia. Ngoài ra nhà trường tích cực tổ chức các chuyên đề như: chuyên đề An toàn giao thông, Thi văn nghệ chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam, Hoạt động ngoài giờ lên lớp với chủ đề “Mừng Đảng – mừng xuân”, Cuộc thi Rung chuông vàng, Trò chơi dân gian
Các hoạt động nhân đạo, từ thiện như: phong trào “Nuôi heo đất”, “Tấm áo tặng bạn” giúp các em có hoàn cảnh khó khăn, thể hiện lòng tương thân, tương ái của con người. Các em nhận được nhiều sự chia sẻ, cảm thông sẽ gần gũi nhau hơn. 
Tổ chức các hoạt động phong phú và các phong trào thi đua sôi nổi góp phần đáng kể trong việc giáo dục các học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức. Các em được tham gia vào các hoạt động giúp các em tự tin hơn, được bạn bè, thầy cô cổ vũ, động viên các em thấy mình được hòa nhập hơn trong tập thể và từ đó làm cho các em có chuyển biến tích cực. 
 	Việc tổ chức các hoạt động cũng góp phần giáo dục kỹ năng sống, giáo dục ý thức sinh hoạt tập thể văn minh, lịch sự; tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cho học sinh toàn trường nói chung và học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức nói riêng.
 	5. Tiến hành theo dõi, kiểm tra các học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức và xử lý kết quả kiểm tra
 	* Theo dõi, kiểm tra
 	Kiểm tra sĩ số học sinh từng buổi học. Có thể kiểm tra đột xuất, đặc biệt chú ý các em hay bỏ học.
 	Quản lý chặt chẽ học sinh trong suốt thời gian học ở trường. Nhà trường quy định trong buổi học tuyệt đối không cho học sinh ra ngoài trường. Những em về sớm phải có sự đồng ý của Ban Giám hiệu hoặc giáo viên chủ nhiệm.
 	Đội Cờ đỏ theo dõi thi đua, nề nếp từng buổi học dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Phụ trách, theo dõi và kịp thời thông báo cho ban chỉ đ

Tài liệu đính kèm:

  • docth_156_8821_2010877.doc